
3.13.2009
12.06.2007
Preview: Beowulf

Một đạo diễn vang danh với những phim tâm lý như Forrest Gump, Cast away liệu có liên quan gì đến những dự án phim tràn ngập kỹ xảo? Trên thực tế, Robert Zemeckis là người đam mê kỹ xảo. Forrst Gump ứng dụng khá nhiều kỹ xảo điện ảnh – và được thực hiện hoàn hảo đến mức nếu không nói ra thì không ai biết! Beowulf không phải là dự án phim đầu tiên của Robert ứng dụng công nghệ performance capture: với công nghệ này, Tom Hanks đã đóng năm vai trong bộ phim hoạt hình Polar Express của Robert Zemeckis hồi năm 2003. Zemeckis cũng là người sản xuất bộ phim hoạt hình 3D Monster House hồi năm ngoái.
Điểm khác biệt giữa Beowulf với những phim hoạt hình 3D, nhất là Polar Express cũng ứng dụng công nghệ performance capture, là gì? Chính là độ tả thực của nhân vật – hay nói đúng hơn là sự sắc sảo của ‘diễn viên’. Nếu Polar Express là một phim hoạt hình thì tham vọng của Zemeckis là biến Beowulf thành một phim ‘hoạt hình thật như người đóng’, với ‘dàn diễn viên’ hùng hậu như Angelina Jolie, Anthony Hopkins, Robin Wright Penn, John Malkovich… Trong phim, các ‘diễn viên ảo’ mang gương mặt của những ngôi sao Hollywood, nhưng họ có thể… làm bất kỳ chuyện gì mà đạo diễn muốn, từ việc mang hình hài quái đản như mọc đuôi dài hay thân người đầy ghẻ lở, đến việc khoả thân 100% mà không chút ngại ngùng, từ việc cưỡi ngựa xuyên qua đám lửa đến chuyện đánh nhau với rồng dưới đại dương. “Zemeckis nói rằng ‘Không có gì anh viết ra được mà mà tôi không quay được’, tự nhiên tôi ngồi viết luôn cảnh Beowulf đánh nhau với rồng dưới đại dương và hàng đống cảnh phim hoành tráng mà chúng ta chưa bao giờ làm trước đây” – biên kịch Neil Gaiman kể.

Beowulf là bộ phim chuyển thể từ trường thi cổ đại của Anh dài 3183 câu, từng được lên phim vài lần và được người trong giới điện ảnh kháo nhau ‘chớ dại mà rớ tới tác phẩm này’ vì sự phức tạp của tác phẩm. Câu chuyện kể về Beowulf, một chiến binh Scandivania cứu người dân của vua Hrothgar khỏi tay con quái vật tác quai tác quái Grendel, để rồi bất ngờ đối mặt với người mẹ của con quái vật này, cũng chính là Nữ hoàng bóng tối. Thế nhưng, Robert Zemeckis hoàn toàn tin tưởng vào công nghệ kỹ thuật số và muốn chứng minh tương lai của điện ảnh chính là kỹ thuật số khi bắt tay vào thực hiện dự án này. Số tiền đổ vào dự án này lên đến 150 triệu đôla, được xem là một cuộc đầu tư mạo hiểm của hãng Paramount. “Với khán giả trẻ, đây chính là thế giới mà chúng đang sống. Vấn đề là chúng tôi phải tìm cách lôi kéo cả những khán giả lớn tuổi hơn” – Giám đốc tiếp thị và phát hành phim thị trường thế giới của Paramount, Rob Moore cho biết. Cũng chính vì thế, Zemeckis phải chấp nhận cắt bỏ nhiều pha bạo lực đẫm máu hoặc quá sức sexy để phim không bị dán nhãn R (hạn chế khán giả dưới 17 tuổi).
Không chỉ là một phim ‘hoạt hình 3D như người thật đóng’, Beowulf còn được phát hành tại các rạp chiếu phim IMAX không gian ba chiều. Đây sẽ là phim không gian ba chiều được phát hành rộng rãi nhất (hơn 1000 rạp 3D và 90 rạp IMAX). Công nghệ phim không gian ba chiều trong thời gian qua đã gặt hái khá nhiều thành công, chẳng hạn như Polar Express, Chicken Little và Meet the Robinsons.

Cũng trong lúc này, các đạo diễn hạng A của Hollywood như James Cameron, Steven Spielberg và Peter Jackson đều đang thực hiện các dự án phim không gian ba chiều của họ, toàn Hollywood sẽ tập trung theo dõi Beowulf như một trường hợp thí điểm cho dòng phim này. “Đây chính là biên giới mới” - người đứng đầu hãng Dream Works Animation Jeffrey Katzenberg, cũng là người dẫn đầu trong việc thực hiện các phim không gian ba chiều, phát biểu “Trong tương lai, tôi nghĩ rằng sẽ có 50 đến 70 phần trăm khán giả xem phim đến với phim không gian ba chiều”. Sau buổi chiếu nháp hồi tháng 7, Roger Avary đồng biên kịch của Beowulf đã ra về trong choáng váng vì ‘không thể quay lại với thực tại’! Sau buổi chiếu ra mắt hồi đầu tháng 11, Beowulf nhận được khá nhiều lời bình luận tích cực – ngay cả với một số nhà phê bình phim vốn thất vọng với Robert Zemeckis trong vòng vài năm trởi lại đây. Nếu Beowulf thành công, nó không chỉ khẳng định sức hấp dẫn của dòng phim ấn tượng thị giác (như phim 300) mà còn khẳng định được xu thế phim kỹ thuật số trong tương lai.
* Performance Capture là công nghệ Motion Capture (ghi nhận lại các chuyển động của vật thể bằng công nghệ kỹ thuật số) được phát triển ở mức độ tinh vi hơn khi ghi nhận các chuyển động tinh tế trên cơ mặt để có thể biểu lộ được chính xác cảm xúc của diễn viên. Với các ghi nhận kỹ thuật số này, máy tính sẽ dựng nên một biểu đồ khung sườn về chuyển động và diễn xuất của diễn viên; sau đó đạo diễn có thể yêu cầu ‘bồi da đắp thịt’ cho diễn viên ảo theo ý muốn của mình để tạo ra các nhân vật có ngoại hình và hành động phi thường mà một diễn viên thật không thể nào làm được, nhưng vẫn có được các biểu cảm tinh tế của một diễn viên người thật. Công nghệ này gây tiếng vang lớn lần đầu tiên khi Peter Jackson sử dụng để tạo ra nhân vật Gollum trong phim Lord of the rings.
Xem Juno, nghe Kimya, gặp Jason Reitman
(từ trái sang): Nhà sản xuất Daniel Dubiecki, đạo diễn Jason Reitman và chủ nhiệm khoa biên kịch trường điện ảnh đại học Nam California Jack Epps.
Juno, bộ phim truyện dài thứ hai của Jason Reitman sẽ ra mắt tại một số rạp giới hạn Mỹ vào cuối tuần này, được trình chiếu miễn phí cho sinh viên của đại học Nam California (USC) vào cuối tuần trước. Một trong những lý do chính của sự ‘ưu đãi’ này chính là vì Jason từng tốt nghiệp từ USC.
Bắt đầu từ năm 19 tuổi, Jason bắt tay vào làm phim ngắn. Chuỗi phim ngắn của Jason liên tục được chọn tranh giải tại LHP Sundance và thắng giải tại nhiều LHP lớn nhỏ khác. Cũng nhờ đó, Jason nhanh chóng có được các hợp đồng làm phim quảng cáo, và tiếp tục gây tiếng vang khi các mẫu quảng cáo do anh đạo diễn tham dự LHP Cannes dành cho phim quảng cáo. Từ những ngày tháng làm phim ngắn, Jason cộng tác thân mật với Daniel Dubiecki, nhà sản xuất của tất cả các phim của Jason, từ phim ngắn đến phim truyện dài. Khi thực hiện bộ phim ngắn Consent (2004), Jason đã quen với nữ biên kịch của phim, người sau này trở thành là vợ của anh. Điều đáng nói là Jason dù học ở USC nhưng anh không học tại trường điện ảnh của đại học này (dù trường điện ảnh của USC được xếp hàng đầu ở Mỹ) mà anh tốt nghiệp chuyên ngành Anh ngữ!
Thật ra không quá bất ngờ nếu bạn biết Jason Reitman là con trai của Ivan Reitman, một trong những đạo diễn/ biên kịch/ nhà sản xuất nổi tiếng của Hollywood, với những tác phẩm đáng chú ý như My super ex-girlfriend, Evolution, Six days seven nights, Ghostbusters… Thế nhưng cũng phải mất một thời gian dài Jason mới tìm được nhà đầu tư để thực hiện được bộ phim truyện dài đầu tay của mình. Thank you for smoking được xem là một trong những phim độc lập thành công của năm 2005. Juno hứa hẹn sẽ là một bộ phim thành công khác của bộ đôi Jason Reitman/ Daniel Dubiecki. Nếu Thank you for smoking khiến người xem chỉ cười mỉm với những ‘tứ’ rất thâm thuý sâu cay về chuyện hậu trường của giới quảng cáo thuốc lá (cũng như những sản phẩm ‘giết người’ khác như súng đạn và bia rượu), thì Juno khiến người xem bật cười bởi lời thoại tinh tế, hồn nhiên, dí dỏm nhưng không kém phần ý nghĩa. Juno, do nữ biên kịch Diablo Cody viết, kể về một cô bé 16 tuổi phát hiện ra mình mang thai. Khác với Knocked up ra mắt hồi hè, cũng nói về một cô gái ‘bất cẩn mang thai’ và sau đó xảy ra hàng loạt chuyện cười ra nước mắt khi cô và ‘thủ phạm bào thai’ cố gắng cùng nhau chăm lo cho chuyện sinh em bé, Juno xoáy mạnh vào những khó khăn của một cô gái vị thành niên phải đối mặt với việc mang thai khi còn cắp sách đến trường và chuẩn bị cho việc sinh nở của mình cũng như tương lai của đứa trẻ. “Người quản lý của tôi nói, đọc kịch bản này đây. Toi thấy một cái tên lạ hoắc và không có ý định đọc thật sự. Thế nhưng sau khi đọc 10 trang thì tôi hoàn toàn bị cuốn hút và khi ở trang thứ 45, tôi nhận ra mình đã đứng suốt trong bếp để đọc kịch bản kể từ khi bắt đầu” – Jason nói trong buổi trò chuyện với sinh viên sau buổi chiếu. “Khi tôi gặp Diablo, tôi hoàn toàn bất ngờ vì cô ấy rất trẻ trung và tài năng. Thoại được viết rất thông minh và súc tích. Diablo rất hiểu các nhân vật và cực kỳ nhạy bén. Chẳng hạn trong phim, có một đoạn tôi gửi email và nói ‘tôi muốn có đoạn thoại nói về chuyện xin con nuôi ở Trung Quốc’ thì năm phút sau cô ấy gửi email lại cho tôi với đoạn thoại mà các bạn xem trong phim. Với ý tưởng trong đoạn thoại đó có lẽ tôi phải mất vài ngày mới nghĩ ra. Trong một đoạn khác, tôi vừa trao đổi với cô ấy qua điện thoại rằng tôi muốn viết thêm về quan hệ giữa Vanessa (Jennifer Garner thủ vai) và Mark (Jason Bateman thủ vai) thì cô ấy đã nói ‘tôi cũng đã nghĩ đến điều đó’ và bùm, cô ấy gửi ngay email cho tôi chính xác những gì tôi mong muốn’ – Jason kể.

Jason Reitman đứng dưới hàng lang cùng khán giả lắng nghe Kimya hát.
Đối tượng chính mà Juno nhắm đến là những bạn gái tuổi teen, nhưng phong cách làm phim của Jason không hề nhí nhố mà thiên về dòng phim độc lập, khá nghiệm túc pha lẫn hài hước. “Khác với Thank you for smoking, chúng tôi biết rõ đối tượng khán giả của mình là ai, với Juno, chúng tôi khá ‘đau đầu’ trong việc lên kế hoạch tiếp thị’ – Jason nói - “Những buổi chiếu thử thật kinh hoàng. May thay, các cô gái trẻ đến xem đã cười và đã khóc. Tôi quá sức bất ngờ với phản ứng của họ. Vấn đề sau đó là tôi không biết nên dựng trailer như thế nào: giới thiệu như một phim hài, hay là một phim bi, giới thiệu hết câu chuyện hay chỉ giới thiệu một phần. Nhiều khán giả họ muốn biết toàn bộ nội dung phim trước khi họ ra rạp, trong khi một số khán giả khác, nhất là đối tượng của phim độc lập, lại muốn khám phá sự bất ngờ ở rạp’.
Dàn diễn viên của Juno khá hoàn hảo: Ellen Page vào vai cô bé Juno ngổ ngáo vật lộn với ‘bụng bầu’, từ những ngày đầu tiên hoang mang, sợ hãi và muốn phá bỏ bào thai cho đến những ngày gần giờ hạ sinh trở nên mạnh mẽ, cương quyết và trưởng thành; Michael Cera trong vai anh bạn trai khờ khạo Paulie; Jennifer Garner và Jason Bateman trong vai cặp vợ chồng trẻ mong muốn tìm một đứa con nuôi. Ellen Page không chỉ hoá thân vào vai diễn, cô còn chính là người gợi ý cho Jason về âm nhạc trong phim. “Cô ấy mang một đĩa nhạc đến gặp tôi và nói ‘Anh nghe đi. Em hình dung đây chính là âm nhạc của Juno’. Tôi nghe thử và choáng váng. Đó thật sự là âm nhạc của Juno, không khí của Juno, phong cách của Juno”. Jason tâm sự. Đó là âm nhạc của nữ ca sĩ trẻ Kimya Dawson. Ngay sau buổi chiếu phim, Jason đã giới thiệu Kimya lên sân khấu để biểu diễn một ca khúc trong phim (Rollercoaster) và một ca khúc trong album mới của cô (I like giants). Đậm chất indie-music, âm nhạc của Kimya không chỉ đơn giản minh hoạ cho nội dung mà còn hơn thế, tô điểm chân dung của cô bé Juno bên cạnh những gì khán giả đã thấy trên màn ảnh. Giản dị và thân thiện, Kimya nhận được nhiều tràng pháo tay tán thưởng từ phía khán giả.

FilmReview: Volver (2006)

Volver (tiếng Tây Ban Nha nghĩa là Trở về) đánh dấu hàng loạt sự trở về. Không chỉ là sự trở về của nhân vật , đó còn là sự trở về của nữ diễn viên chính Penelope Cruz với đạo diễn đã từng giúp cô trở thành minh tinh màn bạc đẳng cấp thế giới gần 10 năm trước và cũng là sự trở về quê nhà – ngôi làng nhỏ La Manchan của Pedro Almodóvar.
Trong một phần tư thập kỷ, những bộ phim như All about my mother (Tất cả về mẹ), Talk to her (Nói với nàng), Bad Education (Giáo dục tồi) đã tạo nên một dòng phim mang đậm bản sắc riêng của Pedro Almodóvar. Đó là sự hoà trộn của các thể loại phim vào một, từ những cảnh hài dí dỏm ban đầu dẫn dắt người xem đến một bi kịch ở cuối phim, từ cảm giác một phim tình cảm để rồi kết thúc như một phim hình sự, với những cái kết bất ngờ và xúc động.
Mở đầu của Trở về là sự dí dỏm về cuộc sống ở ngôi làng nhỏ La Manchan, nơi phụ nữ sống lâu hơn đàn ông và có cái nhìn lạc quan về cái chết: họ chăm sóc cho ngôi mộ của chính mình như ngôi nhà thứ hai.
Trong một ngày đầy gió, Raimunda (Penelopez Cruz) cùng con gái Paula và chị gái Sole đến chăm nom cho ngôi mộ của Irene, người mẹ đã qua đời ba năm, thăm bà dì sống thui thủi một mình trong làng và nhờ người hàng xóm tốt bụng Agustina chăm nom cho bà dì tội nghiệp.
Khi chồng của Raimunda, một gã vô công rỗi nghề định hãm hiếp đứa con gái mới lớn của họ, bị Paula đâm chết trong lúc cô bé tự vệ, phim như chuyển hướng sang thể loại hình sự. Sau đó người dì qua đời, hồn ma người mẹ trở về cùng với cô con gái Sole, bộ phim lại một lần nữa chuyển hướng.
Khán giả không thể hình dung được chuyện gì sẽ xảy ra kế tiếp, và số phận của những phụ nữ của bộ phim, như Raimunda, Irene và Agustina (một nhân vật thú vị đáng để xây dựng thành một phim riêng về cô), dần mở ra với những nỗi lòng trắc ẩn. Sự thú vị bất ngờ đến vào phút chót, khi mà bí mật về cái chết của người mẹ, thân phận của bé Paula và sự mất tích kỳ lạ của mẹ Agustina hé lộ.
Những phụ nữ trong Trở về đều có nỗi lòng, nhưng họ giấu nỗi buồn phía sau gương mặt rạng rỡ. “Thông điệp của bộ phim là nói về những phụ nữ này và mối quan hệ rất tự nhiên với cái chết” – Pedro nói.
Penelope Cruz có một vai diễn xuất sắc trong bộ phim này, với nhiều lời bàn tán về một giải Oscar dành cho cô năm nay. Cô đã cùng Pedro tranh luận và xây dựng cho nhân vật Raimunda, với nhiều cảm hứng từ mẫu hình tượng phụ nữ trong các phim tân hiện thực của Ý.
Cô không phải là nữ diễn viên duy nhất trong phim thể hiện xuất sắc vai diễn của mình – dù rằng sắc đẹp của Cruz khiến cô trở nên nổi bật hơn cả.
Dàn diễn viên của cả bộ phim, với nữ diễn viên kỳ cựu Carmen Maura trong vai Irene, Lola Duena trong vai Sole và đặc biệt là Blanca Portillo trong vai Agustina, đã hoá thân xuất sắc với sự duyên dáng, hóm hỉnh và sắc sảo của họ.
Cộng thêm Yohana Cobo và Chus Lampreave trong vai Paula và bà dì, sáu diễn viên nữ trong Trở về đã đồng đoạt giải Cành cọ vàng tại LHP Cannes 2006 hồi tháng 5 vừa qua. Sau khi chinh phục khán giả châu Âu, Trở về bắt đầu khởi chiếu tại Hoa Kỳ ở hai thành phố Los Angeles và New York city từ 3.11.2006.
FilmReview: The Holiday (2006)

Dàn diễn viên của The Holiday nhìn vô thì đúng là muốn xem liền: Cameron Diaz, Jude Law, Kate Winslet và Jack Black. Nội dung thì đơn giản: Em Amanda ở Los Angeles làm nghề dựng trailer phim có bạn trai ngoại tình, em Iris ở Rosehill bên Anh viết column cho tờ London Telegraph yêu thầm một anh đồng nghiệp ba năm và đến khi thổ lộ tâm sự, biết ảnh cũng yêu mình, nhưng ảnh bi giờ đính hôn rồi; cả hai em đều đau khổ vật vã và chỉ muốn đi thật xa. Thế rồi, Amanda lên mạng (quảng cáo Google trắng trợn), tìm thấy địa chỉ của Iris, hai chị em chat với nhau, cuối cùng đi tối quyết định là đổi nhà cho nhau trong kỳ nghỉ Giáng sinh!
Nhà em Amanda thì quá dữ: nằm ở khu Beverly Hills, biệt thự khổng lồ, có hồ bơi riêng, mọi thứ hoàn hảo, nên dĩ nhiên em Iris tới nhà này thì sướng mê tơi. Bù lại, nhà em iris ở cái chỗ khỉ ho cò gáy hẻo lánh xa xôi, làm em Amanda chỉ mới tới có nửa ngày đã thấy chán ngấy, tự nhận thấy mình ngu ngốc khi đi xa, nên chuẩn bị khăn gói đi về.
Nếu thế thì còn quái gì là phim nữa. Dĩ nhiên, Amanda chưa về được, vì đêm hôm ấy, có một anh chàng đẹp trai gõ cửa nhà. Anh ấy đã giữ em Amanda ở lại... Trong khi đó, em Iris ở bên L.A quen ông già 90 tuổi.
Phim này không quá hài, không quá lãng mạn, không quá sâu sắc, nói chung là cứ bình bình, nhàn nhạt. Cameron Diaz và Jude Law làm một cặp cực kỳ hợp. Lâu rồi tui mới xem phim có Diaz đóng. Trong khi đó, Kate với Jack Black hơi tréo ngoe, không ăn lắm. Đã thế, chuyện hai bên không có kết dính, cứ như là xem hai phim trong một. Nhạc phim cũng không xuất sắc - dù chú Jack Black đóng vai composer nhạc phim. Xem phim chỉ khoái hai vụ: một là em Diaz làm trailer nên trong phim có mấy đoạn trailer của em này làm cùng với trailer do em tự tưởng tượng khá thú vị; hai là sự xuất hiện của Dustin Hoffman (dù hơi nhảm nhảm).
12.04.2007
FilmReview: Borat (2006)
BORAT – KHI NƯỚC MỸ BỊ CƯỜIChỉ chiếu trong khoảng hơn 800 rạp trong tuần đầu ra mắt nhưng thu về 26 triệu đôla, dẫn đầu doanh thu phòng vé tại Mỹ 2 tuần liên tục và sau ba tuần đã thu về hơn 130 triệu đôla doan thu toàn thế giới dù kinh phí thực hiện chỉ có 18 triệu đôla, Borat trở thành một hiện tượng điện ảnh trong năm 2006.
Tựa đầy đủ của Borat khá dài - Borat: Cultural Learnings of America for Make Benefit Glorious Nation of Kazakhstan (Borat: học hỏi văn hoá Mỹ để làm giàu cho đất nước Kazakhstan vinh quang). Phim được làm theo phong cách tài liệu, với những cuộc phỏng vấn ‘người thật, việc thật’. Duy nhất Borat, nhân vật chính của bộ phim, một phóng viên người Kazakhstan được chính phủ cử sang Mỹ để học hỏi về văn hoá Mỹ, đem kinh nghiệm về xây dựng quê hương, không phải là ‘người thật, việc thật’. Borat do nam diễn viên hài người Anh Sacha Baron Cohen đóng, nhưng những người xuất hiện trong bộ phim này không hề biết điều đó (và cả nhiều khán giả sau khi xem phim cũng có thể chưa biết được sự thật đó). Họ nghĩ anh ta đúng thật là một gã người Kazakhstan ngớ ngẩn cần được dạy dỗ.
Chính vì thế, Borat tha hồ chế nhạo sự ‘thiếu hiểu biết’ của dân Mỹ đối với thế giới bên ngoài, một đặc trưng nổi tiếng của người Mỹ vốn luôn tin rằng nước Mỹ là số 1 trên thế giới và các nước còn lại phải học tập nước Mỹ. Đầu tiên, anh chàng phóng viên Borat với bộ quần áo cực xấu và bộ ria mép cực vô duyên đến New York, nhưng vì vô tình bật kênh truyền hình đang chiếu Baywatch – một show truyền hình dài tập xoay quanh những nhân viên cứu hộ trên bãi biển Malibu, chủ yếu để khoe thân thể bốc lửa của các nam nữ diễn viên chính trong phim – Borat đem lòng… yêu say đắm Pamela Anderson, cô đào chính của loạt phim này. Anh quyết định lên đường sang California để tìm Pamela. Hành trình của Borat gặp nhiều ‘khó khăn trắc trở’ cho đến khi anh thực hiện được ‘giấc mơ’ của mình. Sự hài hước của phim Borat không khác mấy so với dạng phim Tư ếch lên thành phố: một anh chàng nhà quê đần đồn, thô bỉ, phân biệt chủng tộc, kỳ thị người đồng tính, vô chính phủ lớ ngớ lên thành phố, xa lạ với mọi thứ và tập tễnh học theo cuộc sống văn minh. Môtip hài cũng lặp lại nhiều ‘chiêu’ rất cũ (mà vẫn hiệu quả), kiểu như xách gà bỏ trong giỏ lên thành phố, rửa mặt bằng nước bồn cầu, ngơ ngác trước TV… Nhưng trong phim Borat, sự hài hước chế giễu còn dựa trên những phản ứng thật của người Mỹ, những người luôn tự tin rằng họ là con người cấp tiến thuộc về thế giới văn mình, nhưng dần lộ ra hình ảnh của những con người chứa đầy định kiến khi ‘va đập’ với Borat. Đa phần các hành động của Borat không chỉ quê mùa mà còn tục và bẩn. Ngay từ đầu phim, Borat đã xuất hiện và giới thiệu ‘Chào các bạn, tôi tên là Borat. Tôi yêu các ban. Tôi yêu tình dục. Hay ho lắm’. Trong phim, có những đoạn khó quên như khi Borat đứng giữa khu đấu bò ở miễn Viễn Tây, nơi tập trung đông nông dân yên nước bậc nhất ở Mỹ, được không ít dân Mỹ cổ vũ khi phát biểu ‘hiên ngang’ rằng ‘Tôi ủng hộ cuộc chiến tranh chống khủng bố của các bạn. Ông Bush có khi uống máu của từng người đàn ông, đàn bà và trẻ em ở Iraq” , rồi tiếp sau đó là … người Do Thái nên bị săn như săn hươu, và hát quốc ca Kazakhstan ‘chế’ trên nền nhạc quốc ca Mỹ với nội dung ‘Kazakhstan là người vĩ đại nhất trên thế giới, các nước khác bị thống trị bởi đám con gái bé con…”; Borat gặp ba cậu sinh viên Mỹ và biết được ‘sự thật’ về sự trong trắng của Pamela Anderson, trong khi ba cậu sinh viên này an ủi anh bằng những tuyên ngôn xanh rời như ‘Phụ nữ trên thế giới này phải trở thành nô lệ hết’; hay khi Borat lọt vào nhà thờ của một giáo phái cuồng tín ở Mỹ với những nghi lễ nực cười… Theo thói thường, dễ dàng quy chụp Borat là một kiểu hài rẻ tiền và dung tục, nhưng bộ phim vẫn thắng đậm về doanh thu bởi người xem không thể không nín được cười và bàn tán về nó sau khi xem khiến người khác phải tò mò. Không chỉ vậy, sau cái hài có vẻ rẻ tiền và dung tục là cái cười thâm thuý vào chính những phản ứng rất thật của những người Mỹ trong phim – những người được Borat phỏng vấn để học hỏi như chuyên viên về nghiên cứu hài hước, hướng dẫn trở thành quý ông, chuyên gia rượu v.v… và những người Borat gặp trên đường đi. Chính khán giả Mỹ cũng không thể tin nổi đồng hương của họ lại phản ứng như thế trên phim.

Từng học Đại Học Cambridge và nghiên cứu về sự hài hước của người Do Thái, Sacha Baron Cohen rất thành công với những show truyền hình Ali G indahouse và Borat, những nhân vật chế nhạo xã hội và truyền thông một cách trực diện. Lần này ‘đến Mỹ’, Borat được quảng bá miễn phí trên nhiều kênh truyền thông vì mọi người đều bàn tán về nó, nhưng lại ít người tin rằng phim sẽ thắn đậm vì ‘liều lượng hài’ của pim có phần quá lố. Thế nhưng, Borat vẫn gặt hái thành công lớn về doanh thu, và kéo theo sau đó không ít rắc rối liên quan đến kiện tụng. Sau khi bộ phim công chiếu, hàng loạt nhân vật xuất hiện trong phim đâm đơn kiện Sacha Baron Cohen. Đầu tiên là hai cậu sinh viên, mà tin chắc rằng sẽ chẳng còn cô gái nào muốn trở thành bạn gái của họ sau khi xem ba anh chàng phát biểu những tuyên ngôn đầy tính phân biệt chủng tộc và phân biệt giới tính trong bộ phim này, đâm đơn kiện nhà sản xuất phim đã chuốc rượu họ rồi đưa họ ký những giấy tờ trong khi họ say xỉn và không ý thức được điều mình đã nói và làm. Cindy Streit, người phụ nữ hướng dẫn cho Borat cách hoà nhập với thế giới thượng lưu ở Mỹ và sắp xếp một bữa ăn tối với bạn bè của bà, đã kiện Sacha vì đoạn phim không được dùng đúng như mục đích ban đầu là ‘phim tài liệu để phát trên một kênh truyền hình ở Belarus’. Những người dân ở một làng quê Rumani cũng đòi nhà sản xuất bộ phim này phải chi trả tiền cho sự xuất hiện của họ trong phim. Người đại diện trong làng nói ‘Chúng tôi tưởng họ đến để giúp chúng tôi, chứ không phải để mỉa mai châm chọc chúng tôi. Chúng tôi dù có nghèo, nhưng chúng tôi vẫn là con người’. Tất cả những ‘rùm beng’ về doanh thu, kiện tụng và bàn tán của bộ phim này đủ để biến Borat trở thành một trong những hiện tượng văn hoá của năm 2006.
FilmReview: Blood Diamond (2006)

Ban đầu, tui nghĩ Blood Diamond sẽ giống như The Constant Gardener hồi năm ngoái, tức là phim nói về đời sống cực khổ của dân châu Phi, những vấn đề tham nhũng, bạo hành, phân biệt chủng tộc, những người da trắng can dự vào tình hình các nước thứ ba, rồi các phi vụ đen, phim sẽ nặng nề, có phần buồn ngủ.
Khá nhiều người không ưa Leonardo DiCaprio, có lẽ vì ấn tượng của Jack trong Titanic, sự thành công quá lớn của bộ phim đem đến tên tuổi nổi như cồn cho Leo, và chẳng ai muốn công nhận khả năng diễn xuất của Leo - họ luôn bình phẩm rằng mặt thằng búng ra sữa đó thì đóng phim cái gì. Vì thế, rủ một người bạn đi xem Blood Diamond chung khá khó khăn.
Tui vốn thích Leonardo DiCaprio. Tui xem hầu hết các phim Leo đóng và đều thích, từ phim Nhật ký bóng rổ cho tới Titanic, Người đàn ông mang mặt nạ sắt, Bãi biển và đặc biệt là Romeo & Juliet 96. Phim gần đây Leo đóng cũng khá thành công - The Departed, dù tui vẫn thích vai của Lương Triều Vỹ hơn là vai của Leo, nhưng Leo đóng mang màu sắc khác cho nhân vật.
Trong Blood Diamond, Leonardo là một con người khác, hoàn toàn khác biệt. Một gã buôn kim cương ranh mãnh, cáo già, giỏi luồn lách ở xứ Nam Phi đầy biến động. Ở Nam Phi, người ta đi đào mỏ tìm kim cương, và để có nguồn nhân lực, nhiều phe phái trang bị vũ lực, đi bắt người dân vô tội rồi đẩy họ vào các khu mỏ. Trẻ con được huấn luyện để cầm súng bắn giết một cách nhẫn tâm. Danny (Leonardo) mồ côi cha mẹ do những biến động chính trị tại Nam Phi trong những năm 1970, đã sống vất vưởng lề đường trong nhiều năm trời, biết hết mọi đường đi nước bước để có thể tôn tại giữa hai làn đạn - phe quân sự và phe buôn kim cương. Trong một lần bị bắt vô tù vì bị phát hiện giấu kim cương, Danny nghe được một tù nhân vốn là kẻ cầm đầu đám đào mỏ đang chỉ điểm và đe doạ một tù nhân khác vì tên kia dấu một viên kim cương lớn chưa từng thấy. Kẻ bị đe doạ là Solomon (Djimon Hounsou), một người đánh cá hiền lành, có một gia đình ấm cúng, nhưng tất cả tan thành thành mây khói chỉ trong một buổi sáng khi đám đào mỏ kéo tới làng của anh. Vợ và con anh chạy thoát được, nhưng anh thì bị bắt và phải đi đàm kim cương. Solomon thật sự đã đào được một viên kim cương khổng lồ và đã cất giấu nó ngay trước khi quân đội ập đến khu mỏ và tấn công. Danny bằng mọi giá dụ dỗ Solomon đi tìm lại viên kim cương, với giao kèo sẽ giúp Solomon tìm lại vợ và con trai anh. Hành trình của họ còn có sự giúp sức của một nữ phóng viên (Jennifer Connelly) muốn viết về những mảnh đời ở vùng đất khó khăn này, để lên án các công ty buôn bán kim cương đã đẩy khu vực này vào tình trạng hỗn loạn phi chính phủ. Hành trình của họ đi ngang qua nhiều nơi, để nhìn thấy một châu Phi tàn tạ, đau đớn đẫm máu.

Với một câu chuyện như thế, dĩ nhiên phim không buồn ngủ như the Constant Gardener. Trái lại, tui đánh giá đây là phim hành động gay cấn hàng đầu trong năm nay, với các pha đuổi bắt ngoạn mục, các màn bắn súng tưng bừng khói lửa và các đoạn hồi hộp căng thẳng đến đứng tim. Phim còn khiến tui thấy sợ hãi khi chứng kiếm đám trẻ con được dạy phải giết người không run tay thế nào (Spoiler) Bạn sẽ dễ đoán ra Solomon và con trai anh sẽ đối mặt với nhau ở đoạn cuối, khi mà đứa con đã quên mất giấc mơ thành bác sĩ của nó để trở thành một chiến binh cầm súng bắn vào người vô tội, dù đó là cha của mình (End spoiler). Sức mạnh của Blood Diamond không chỉ dừng trong một bộ phim. Nghe nói, bộ phim đã gây ảnh hưởng không nhỏ đến công nghiệp buôn bán kim cương - mà Mỹ là nước tiêu thụ kim cương hàng đầu thế giới. Mặc dù công ty kim cươn trong phim tên là Van Der Kaap, nhưng có vẻ như nó là hình ảnh của De Beers, công ty kim cương số một thế giới. Blood Diamond, Kim cương máu, là tên bài phóng sự của nữ phón viên trong bộ phim. Nó phản ánh sự thật tàn bạo và nhẫn tâm của việc mua bán kim cương trên thế giới, khi mà không biết bao nhiêu mạng người đã phải trả giá để có một viên kim cương. Như lời dẫn trong phim, buôn bán kim cương đã gây ra chiến tranh ở nhiều nước châu Phi, nhiều kẻ trang bị vũ trang, nhiều người đã chết, và hàng triệu người di tản mà trong đời chưa từng thấy một viên kim cương nào.
Blood Diamond (2006)
Đạo diễn: Edward Zwick
Kịch bản: Charles Leavitt
Diễn viên: Leonardo DiCaprio (Danny Archer), Djimon Hounsou (Solomon Vandy), Jennifer Connelly (Maddy Bowen), Kagiso Kuypers (Dia Vandy), Arnold Vosloo (Colonel Coetzee), Antony Coleman (Cordell Brown).
Daniel Craig - James Bond tóc vàng

Khi hãng MGM công bố diễn viên sẽ vào vai James Bond mới trong tập phim thứ 21, Sòng bạc Hoàng Gia, sẽ là nam diễn viên Daniel Craig, một làn sóng phản đối từ phía người hâm mộ dấy lên. Họ gọi Daniel là ‘James Blond’ (James tóc vàng hoe), lập cả website để đả kích Craig, mỉa mai vẻ mặt gai góc của anh và châm chọc cả chuyện Daniel từng xuất hiện khoả thân hoàn toàn trong một số phim trước đó. Thế nhưng, khi Sòng bạc Hoàng Gia ra mắt hôm 17.11, Daniel Craig nhận được lời tán tưởng từ phía các nhà phê bình. Còn khán giả? Doanh thu ngất ngưỡng của Sòng bạc Hoàng Gia là một minh chứng rõ nét cho sự ủng hộ của người xem với chàng James Bond tóc vàng này.
Năm nay 38 tuổi, nam diễn viên người Anh Daniel Craig ít được khán giả số đông biết đến tên tuổi trước khi được mời vào vai James Bond. Tuy nhiên, họ có thể không biết tên anh, nhưng những vai diễn của anh lại gây ấn tượng mạnh với phần đông người xem. Vai diễn gây chú ý đầu tiên là anh chàng đối thủ nhưng cũng là người tình của Lara Croft trong phim Tomb Raider - Bí mật ngôi mộ cổ (2001) bên cạnh Angelina Jolie. Thế nhưng, Daniel cảm thấy tốn thời gian khi đóng những dạng phim hành động giải trí đơn thuần như Bí mật ngôi mộ cổ. Năm 2002, anh vào vai Rooney, con trai của ông trùm băng đảng tội phạm Ái Nhĩ Lan, tàn sát gia đình của con nuôi cha mình vì ghen tỵ trong phim Road to Perdition - Con đường diệt vong, một phim quy tụ nhiều diễn viên nổi tiếng như Paul Newman, Tom Hanks và Jude Law. Nhân vật của Daniel thủ vai là thên chốt thúc đẩy bi kịch của câu chuyện. Vẻ mặt lầm lì đến lạnh lùng của Daniel làm nền cho diễn xuất trầm lắng của Paul Newman, căng thẳng của Tom Hanks và vô cùng bệnh hoạn của Jude Law.
Sự thành công này không làm Daniel háo hức đến Hollwood ngay tức thì. Anh vẫn tìm kiếm cho mình những vai diễn ‘khó nuốt’ trong những phim nghệ thuật. Sau Con đường diệt vọng, Daniel tham gia khá nhiều phim độc lập kinh phí thấp như Sylvia (2003), Enduring Love (2004) và Layer Cake (2005). Anh xuất hiện trong chùm phim ngắn của các đạo diễn lừng danh, Ten Minutes Older: The Cello, cùng hàng lọt phim châu Âu khác. Cuối năm 2005, Daniel thể hiện tài năng diễn xuất của anh khi tham gia bộ phim Munich của đạo diễn Steven Spielberg.
Năm 2006 là năm thành công lớn trong sự nghiệp điện ảnh của Daniel. Anh lồng tiếng cho bộ phim hoạt hình Renaissance, một phim hoạt hình 2D đen trắng mang đậm phong cách truyện tranh với bối cảnh Paris năm 2054, xoay quanh câu chuyện một viên cảnh sát truy tìm một nhà khoa học bị bắt cóc. Sau bộ phim này, khán giả nhìn thấy anh trong vai Perry Smith, tên sát nhân đồng tính tạo nguồn cảm hứng cho nhà văn Truman Capote viết nên cuốn tiểu thuyết Cold Blood trong phim Infamous – một phim có nội dung tương tự với phim Capote đã đem về giải Oscar Nam diễn viên chính xuất sắc nhất cho Phillip Seymour Hoffman. Thế nhưng, vai diễn đáng chú ý nhất, gây tranh cãi nhất, ồn ào nhất chính là James Bond trong phim Sòng bạc Hoàng Gia. Hơn 44 năm và 20 phim, James Bond đã chiến đấu chống những kẻ ác điên loạn và nguy hiểm bằng những ‘đồ chơi’ hàng độc, lên giường với không biết bao cô gái xinh đẹp, dù nàng là người tình hay kẻ thù, nhưng không bao giờ cảm thấy rung động khi phải chia tay người đẹp; và anh luôn lịch lãm trong bộ vét sang trọng màu tối tôn lên nét mặt sáng sủa đào hoa.

Daniel Craig chấm dứt hình ảnh đó của James Bond. Trong Sòng bạc Hoàng Gia, lần đầu tiên James Bond yêu thật sự và tan nát con tim. Lần đầu tiên, James Bond để râu lỉa chỉa, áo quần rách bươm, không còn vẻ hào nhoáng của một quý ông lịch lãm. Lần đầu tiên, James Bond không còn khuôn mặt đào hoa mà thay vào đó là nét mặt tối tăm của một kiểu người hùng nhiều nội tâm. Nhà sản xuất Barbara Broccoli có lý do để chọn Daniel Craig. “Chúng tôi muốn thay đổi hình tượng của Bond, nhưng vẫn giữ lại hai điểm căn bản nhất của điệp viên lừng lẫy này: anh ta vẫn quyến rũ phụ nữ, và anh ta là một điệp viên”. Khác hẳn với vẻ đào hoa của Piere Brosnan, Daniel Craig có sự quyến rũ bạo liệt và sần sùi hơn. “Daniel có sự gợi cảm đầy nam tính. Có một cảnh trong kịch bản chỉ đơn giản là Bond đang lặn dưới nước để theo dõi kẻ thù, thế nhưng khi anh ta từ dưới biển bước lên bờ, tôi đã thở dốc! Những phụ nữ trong đoàn phim cũng há hốc miệng! Chúng tôi đều biết Daniel có thân hình tuyệt vời, anh ấy đã tập luyện trong ba tháng trời rất nghiêm túc để không chỉ có thân hình săn chắc mà còn có được sự dẻo dai, bền bỉ cho các pha hành động”.
“Từ khi tôi con nhỏ, tôi đã mơ được đóng Bond”. Craig nói. “Vì vậy khi được mời đóng vai này, tôi đã suy nghĩ rất nghiêm túc. Tôi không muốn lặp lại điều gì đã có trước đây. Bộ phim này hoàn toàn mới lạ. Tuy vậy, không có nghĩa là Sòng bạc Hoàng Gia không giống phim Bond. Tôi muốn thấy anh ấy sai lầm. Tôi muốn khán giả tin rằng anh ta sai lầm, rồi anh ta sữa chữa sai lầm ấy, điều đó sẽ đem đến nhiều hưng phấn hơn. Tôi mong mọi người xem phim và nói rằng ‘Đây là một phim Bond, vé đã bán sạch hết!”. Craig nói về quan điểm của anh với vai diễn của mình. Sòng bạc Hoàng Gia dựa theo tiểu thuyết đầu tiên về Bond của Ian Fleming, ra đời từ năm 1953, xoay quanh điệp vụ mật đầu tiên của chàng điệp viên mang mật danh 007. Khác biệt với các Bond trước đây sử dụng nhiều vũ khí công nghệ cao, James Bond của Daniel Craig không có các ‘đồ chơi hàng độc’, nhưng vẫn hấp dẫn ly kỳ vì tính chân thực của các loại vũ khí mà Bond sử dụng cùng các pha hành động chóng mặt. Bên cạnh đó, nàng Vesper Lynd (Eva Green) vừa quyến rũ vừa nguy hiểm hứa hẹn không chỉ làm tan nát con tim của Bond mà cả… khán giả nam giới!
Thế nhưng ngay khi hãng phim công bố Daniel vào vai James Bond, khán giả hâm mộ điệp viên 007 đã nổi giận. “Tôi không hề mong chờ sự phản đối kịcch liệt này. Tôi đã cố gắng 110 phần trăm kể từ khi bắt đầu, nhưng với những gì khán giả đang khuấy động, có lẽ tôi phải cố gắng 115 phần trăm” – Daniel nói về sự phản hồi tiêu cực từ phía người hâm mộ trước khi phim ra mắt. “Tôi tránh đọc những điều họ nói. Nếu tôi lên Internet và bắt đầu đọc những gì họ viết về tôi, có lẽ tôi sẽ phát điên mất. Họ ghét tôi. Họ nghĩ rằng tôi không hợp vai. Chỉ đơn giản thế thôi. Họ có niềm đam mê với nhân vật này, điều đó tôi hiểu, nhưng tôi mong họ hãy để dành lời phán xét sau khi xem phim. Điều làm tôi bực bội là tôi bị chỉ trích trước khi tôi hoàn thành vai diễn. Tôi không định tranh luận với họ, và câu trả lời duy nhất của tôi là “Xem phim rồi hãy bình phẩm”.
Kế hoạch cho một phim Bond kế tiếp đã được vạch ra, và Daniel Craig đã ký hợp đồng để tiếp tục vào vai 007 trong bộ phim Bond 22, dự kiến ra mắt vào năm 2008. Lần này, không còn nhiều người phản đối bởi đa phần đều đã bị chinh phục khi họ xem Sòng bạc Hoàng Gia. Khán giả hâm mộ Daniel không cần phải chờ đến năm 2008 mới gặp lại Daniel. Đầu năm 2007, anh xuất hiện bên cạnh Nicole Kidman trong phim The Invasion, một phim khoa học viễn tưởng nói về sự xâm lăng Trái Đất của người hành tinh. Daniel thủ vai đồng nghiệp cũng là người tình của Nicole Kidman, một nữ bác sĩ tâm lý phát hiện ra những dấu hiệu lạ thường khiến nhiều người thay đổi hành vi ứng xử một cách khó hiểu. Mùa hè 2007, anh góp mặt trong phim thần thoại thiếu nhi His Dark Materials, với hai bạn diễn nữ quyến rũ và quen thuộc với anh: Nicole Kidman và Eva Green. “Mọi người đều muốn có một vai diễn an toàn. Tôi thích thử thách mình. Tôi muốn vào những vai mà mọi người không tin là tôi đóng được”. Cho đến nay, những vai diễn của Daniel đều thành công và hứa hẹn anh sẽ là ngôi sao lớn trong thời gian sắp tới.
FilmReview: The Foutain (2006)

Thường thì khi mong đợi điều gì đó quá, sẽ dễ bị thất vọng. Đi xem phim, tốt nhất là nên đừng quá mong chờ. Khổ nỗi, nếu như không mong chờ thì... chả đi xem phim làm gì - chi cho tốn tiền. Sự mâu thuẫn nằm ở chỗ đó.
The Fountain là một phim mà tui mong đợi. thật ra thì, tui đã đọc loáng thoáng review trên mạng rằng phim này bị khán giả ở LHP Venice la ó chê bai. Xem trailer thì tui cũng đã hình dung phim này cũng sẽ dở đây. Thế nhưng, với Hugh Jackman và Rachel Weisz, với Darren Aronofsky (ai đã từng xem Requiem for a dream và mê thì đều biết tới anh này, ngoài ra anh ấy còn là đạo diễn của phim Pi cũng rất đình đám trong giới làm phim độc lập, và anh ấy cũng là chồng của Rachel Weisz), và với sự giới thiệu trân trọng của bạn Red_violin, tui quyết định kỳ vọng vào The Fountain, và bất chấp sự phản đối của ba đứa bạn đi chung đòi xem Happy Feet, tui đã bắt buộc cả đám đi vô xem The Fountain. Kết quả: một thằng ngủ trong rạp, sau đó rời khỏi rạp chiếu phim thì không ai nói với ai tiếng nào và cố gắng tránh né nhắc tới bộ phim.
Dĩ nhiên là phim không tới nỗi dở như thế . Công bằng mà nói, phim đẹp, chầm chậm và đèm đẹp, nhạc hay, chầm chập và hày hay. The Fountain là một phim nói về sự bất tử, thuyết vĩnh hằng. Với người Tây Ban Nha, nó là một suối nguồn. Với người Maya, đó là cái cây. Và với người theo thuyết tương lai (hy vọng không phải là đạo Scientology của Tom Cruise) thì đó là một cái cây đại thụ trụi lá với những sợi lông li ti nằm trong một tinh cầu giữa thiên hà. Mở đầu phim, Hugh Jackman trong vai một chiến binh Tây Ban Nha râu ria xồm xoàm, trông dơ bẩn thỉu trong bộ giáp rườm rà đang cùng quân lính của mình đánh vào rừng rậm của tộc Maya, leo lên ngọn tháp để tìm kiếm Cây Đời (Tree of Life) - cội nguồn sự sống, cửa để đến cõi vĩnh hằng. Anh gặp một chiến binh Maya, kẻ giữ cánh cổng đến Tree of life. Hắn vung thanh đao lửa lên... và ánh sáng loé lên... ta thấy Hugh Jackman, nay đầu đã trọc, mày râu nhẵn nhụi, áo vải giản dị, sạch sẽ tinh tươm, ngồi xếp bằng như Phật trong quả cầu bay lơ lửng giữa thêin hà, bên gốc cây đại thụ không còn lá, văng vẳng đâu đó tiếng người yêu "finish it?"....Là hình ảnh của nàng, đâu đó của ngày xưa, thời năm 2006, trong một ngày đầu đông, những bông tuyết đầu tiên rơi xuốn, nàn muốn anh cùng đi với nàng ra ngắm, nhưng chàng thì bận rộn với việc chữa bệnh cho ... một con khỉ! Dĩ nhiên, chữa bệnh cho con khỉ phải rất quan trọng - tìm kiếm phương thuốc cứu chữa cho căn bệnh mà nàng đang mắc phải.

(Spoiler)
Dĩ nhiên là bạn bắt đầu thấy rườm rà. Yên tâm, phim đủ chậm để bạn có thời gian suy nghĩ xem chuyện này là thế nào. Nếu bạn thấy chậm chưa đủ vì có nhiều chi tiết, thì phim cũng có nhiều cảnh lặp đi lặp lại để nhắc bạn đừng quên. Thật ra thì dù nó có chậm và có lặp đi lặp lại thì tui cũng không hiểu hết toàn bộ đường dây câu chuyện của phim . Ba câu chuyện trong phim đều do hai diễn viên đóng, ở những thời điêm khác nhau. Để sắp xếp lại trật tự, tui tự đoán rằng: Hugh Jackman trong vai bác sĩ Tom, một người làm việc hết mình để chữa cho căn bệnh ung thư não của vợ, nhưng anh không thể nào cứu vãn được tình thế. Vợ anh là một nhà văn, nàng viết câu chuyện The Fountain về một chiến bình Tây Ban Nha đi tìm suối nguồn trường sinh cho nữ hoàng (dĩ nhiên vẫn do Hugh Jackman và Rachel Weisz đóng), và chàng tìm ra Cây Sự Sống của người Maya. Trong lúc đó, ở thì tương lai, chàng cũng đã ngộ ra chân lý của sự vĩnh hằng chính là rũ bỏ và chấp nhận thực tại, là 'finish it' (chữ it này hay thiệt, không biết it là cái gì, vì nó có thể là cuốn sách (sẽ đề cập sau) mà cũng có thể là công việc của chàng (vì chàng cứ hứa sẽ finish sớm để đi chơi với nàng) mà cũng có thể là cuộc đời chàng), thì chàng hoá Phật. Hoá Phật trong tương lai, chàng hiện thân thành Phật trong quá khứ, và chiến binh Maya cũng vì thế mà mở cánh cửa cho chàng đến với cây sự sống. theo truyền thuyết, cây sự sống khiến người ta bất tử, nhưng chính họ cũng trở thành cái cây... Vì người vợ chết trước khi hoàn tất, và nàng để lại cây viết mực (fountain pen) với mong muốn chàng finish it, bác sĩ bắt đầu viết chương cuối cùng của cuốn sách.
Mới đầu tui còn tưởng người yêu của chàng trai bị biến thành cái cây, vì thấy anh cứ ôm ấm, sờ sẫm cái cây, lông của cây cứ dựng đứng cả lên khi anh đưa tay lại gần, nhưng hình như không phải. Mới đầu tui cũng tưởng là anh ấy trường sanh bất tử, nhưng hình như không phải.
(End Spoiler)
Có lẽ toàn bộ câu chuyện được phức tạp hoá lên để có đất cho đạo diễn thể nghiệm khả năng biến hoá thị giác. Không thể phủ nhận sự hoành tráng, ly kỳ, lạ lẫm của các khung hình trong phim, đặc biệt là tinh cầu và Cây Sự Sống. Tuy nhiên, tôi cảm giác rằng câu chuyện đã rối rắm quá sức không cần thiết, các nhịp điệu lặp đi lặp lại quá lố không cần thiết và Hugh Jackman cũng khóc nhiều quá mức cần thiết - (Spoiler) đến nỗi tui cảm thấy gần như vô cảm và tê liệt với nước mắt của anh và không chút mảy may xúc động khi người vợ qua đời.(End Spoiler)
Có lẽ vì mong đợi nhiều nên hơi thất vọng nhiều.
The Fountain (2006)
Đạo diễn: Darren Aronofsky
Kịch bản: Darren Aronofsky
Diễn viên: Hugh Jackman (Tomas/Tommy/Dr. Tom Creo), Rachel Weisz (Queen Isabel/Izzi Creo), Ellen Burstyn (Dr. Lillian Guzetti), Mark Margolis (Father Avila)
MPAA: Rated PG-13
FilmReview: Casino Royal (2006)

Cuối cùng thì cũng đã xem Casino Royale. Thoả mãn vô cùng. Trước nay xem phim James Bond 007 thấy cũng vui vui, xạo pà cố, nhưng chưa bao giờ thấy hưng phấn hứng thú như xem phim này. Phải nói rằng, Casino Royale không giống bất kỳ phim James Bond nào từ trước tới giờ. Khác biệt lớn nhất là Bond không xài 'đồ chơi'. Khác biệt nữa là trước nay chú Bond chả có đánh đấm gì cả, chủ yêu cào cào hai ba phát là rút súng, rút đồ chơi ra, còn phim này thì bay nhảy, đánh lộn, bay đá ì xèo. Đầu phim có đoạn Mission Impossible đụng độ Spiderman (trong rạp có thằng cha kia cười hô hố vì thấy phim xạo wé - nhưng khúc sau chả hết cười, chắc tại thấy phim cũng không xạo wé). Phim này có đoạn 'thần bài quần anh hội' cũng hấp dẫn nữa. Em Eva Green trong phim này nếu không trang điểm (cái đoạn trong nhà tắm) thiệt sexy, còn khi em đánh môi đỏ chót thấy chán phèo. Đây cũng là lần đầu tiên Bond nói 'I love you'. Nói thêm là Casino Royale là phi vụ đầu tiên của Bond, nhưng các nhà làm phim cũng chả việc quái gì lùi thời gian trong phim lại vài chục năm trước mà ấn định là làm 2006 luôn. Daniel Craig không đẹp trai, nhưng cực kỳ hợp vai. Bảo đảm chú Pierce Brosnan không ăn nhập gì với James Bond kỳ này.
Hồi xưa, xem phim Bond, tui cứ nghĩ muốn hạ thằng cha này cũng đơn giản: cứ lột đồ chả ra, cột vô cái ghế, để giữa phòng trống, cha này chả làm ăn gì được. Vì xem phim nào chú Bond bị bắt trói, nếu không phải cái đồng hồ đeo tay thì cây viết giắt nơi túi áo cũng là vũ khí bí mật tối ưu. Ai ngờ phim này, thằng cha Le Chiffe làm thiệt. Chả lột hết đồ Bond ra, trói vô cái ghế, xong lấy dây thừng cột một đầu quất vô cái 'vũ khí' còn lại của chú Bond. Thiệt là bi kịch!

Chỉ tiếc là phim này làm action tưng bừng, rất là realistic, không phải sci-fi như mấy phim Bond khác, nhưng lại hơi hướm Mission Impossible (cả hai chú Bond và Ethan Hunt đều là dân MI6), thiếu vắng công nghệ cao thì hơi tiếc thiệt. Giá mà cảnh cuối, mấy ông làm phim cho chú Bond xuất hiện với mấy thứ đồ chơi thặng thừa hạ gục thằng trùm cuối và nói My name is Bond, James Bond, dù là cảnh cuối đi nữa, cũng thấy đã nữa. Vậy mà chả có đồ chơi gì hết. Tuy vậy, xem phim này thấy khoái hơn mấy phim Bond khác... Chắc tại tui kết cha Daniel Craig này, từ hồi xem Road to Perdition...
12.01.2007
FilmReview: Apocalypto (2006)

12g30 nửa đêm, thằng bạn gọi điện dựng dậy rủ đi xem phim, vì Chủ Nhật nó về nước. Lò dò ra Flagship để xem Apocalypto lúc 1 giờ đêm. Phim này, lại một lần nữa, rất hợp với không khí của cái rạp cũ kỹ và bẩn thỉu này. Đã vậy, projecttor chỉnh không đúng khâu độ nên lúc mờ lúc rõ, tức điên người.
Phim dài 2 tiếng 15 phút, xem xong là 3g sáng, mà tỉnh cả ngủ. Mel Gibson rõ ràng là người nghiện máu. Chắc làm phim Passion of The Christ xong vẫn còn dư nhiều máu đạo cụ chưa dùng hết nên làm tiếp Apocalypto để xài cho hết. Phim này nhầy nhụa máu, khuyến cáo phụ nữ mang thai và trẻ em đang bú sữa đừng xem.
Hồi mới xem quảng cáo, nghe nói phim kể về ngày tàn của đế chế Maya, nên cũng hứng thú lắm. Tuy vậy, đế chế Maya trong phim chỉ xuất hiện có một đoạn với mấy cây cột dựng lên cao ngất trong một trường đoạn man rợ nhất của phim. Phim mở đầu với cuộc sống của một bộ tộc trong rừng rậm, những người đàn ông vào rừng săn bắn, phụ nữ ở nhà sinh con giữ nhà. Thế rồi, một bộ tộc khác đến, tàn sát bộ tộc này, bắt đàn ông và phụ nữ khoẻ mạnh đi. Nhân vật chính của chúng ta, Jaguar Paw (Vuốt Báo) kịp thả người vợ đang mang thai và đứa con trai bé bỏng của mình xuống hang sâu để trốn, nhưng anh cũng bị bắt đi. Hành trình của họ đi ngang cánh rừng, cánh đồng, dòng sông chảy xiết, ngang những nơi bệnh dịch đang hoành hành khiến người chết như rạ, để đến đế chế Maya, nơi các thầy cúng đang làm lễ tế thần cầu cho nạn dịch chóng qua, đất mẹ đừng nổi giận. Jaguard paw phải tìm cách sống sót trở về, bởi nếu cơn mưa đổ xuống, vợ con anh cũng chết dưới hang sâu.

Tràn ngập trong phim là máu me và những cảnh bạo lực đến man rợ. Man rợ hãi hùng nhất là khi những nô lệ bị đem ra tế thần: thầy cúng móc trái tim còn đang đập thoi thóp ra khỏi cơ thể người đang sống, chặt đầu, vứt xuống bậc thang lăn lông lốc. Ám ảnh nhất là khi Jaguar Paw ngã xuống cánh đồng thây người, những cái xác không đầu chất đống cả cánh đồng, ruồi nhặng bay tứ tung.
Diễn viên của phim đóng thật tới nỗi có cảm tưởng họ thật sự thuộc về thời đại đó, chủng người đó. Đám con nít cũng thế, đôi mắt chúng ráo hoảng, hoảng loạn, ngơ ngác. Phim không nói tiếng Anh mà nói tiếng người Maya cổ đại. Âm nhạc góp phần tạo thêm không khí căng thẳng và kích động.
Xem phim nửa đêm, nên tối về cũng có hơi ám ảnh, tối ngủ mơ thấy mấy cái mặt người ghẻ lở nhe răng đen cười
FilmReview: The Prestige (2006)

Christopher Nolan – đạo diễn từng khiến giới mê phim điên đầu và mê mẩn với những trúc trắc lắt léo với Memento (Hồi ức) và khán giả yêu thích phim thương mại thưởng ngoạn một Batman begins (Huyền thoại người dơi) đậm tính giải trí – đã hoà trộn giữa sự lắt léo của Memento và sự hấp dẫn của Batman begins vào bộ phim mới nhất của anh: The Prestige (Thanh thế).
Kịch bản của The Prestige do em trai của Christopher, Jonathan Nolan, đồng chắp bút như họ từng cùng viết cho Memento. Hai diễn viên Christian Bale và Michael Caine từng làm việc với Christopher trong Batman Begins trở lại trong The Prestige, bên cạnh diễn xuất của Hugh Jackman và Scarlett Johansson. Mở đầu phim, một giọng nói trầm ấm, mê hoặc, kỳ bí cất lên câu hỏi ‘Bạn có đang theo dõi kỹ càng không?’. Cho dù câu hỏi đã cảnh báo từ đầu, cho dù người xem có cố gắng tới đâu, không ai quan sát đủ kỹ để phán đoán ra điều gì sẽ xảy ra kế tiếp…The Prestige đặt bối cảnh tại London ở thế kỷ 19, xoay quanh cuộc đối đầu nghiệt ngã và chết người giữa hai nhà ảo thuật tài ba. Thế nhưng, The Prestige không chỉ là phim nói về ảo thuật, mà nó còn bao hàm tình yêu, lòng hận thù, những bí ẩn về sàn diễn ảo thuật và cả tội ác.
Phim khởi đầu là cái chết của nhà ảo thuật Robert Angier phía sau hậu trường trong khi đang trình diễn, ngay trước mặt của đối thủ của mình đang rình mò tìm hiểu ‘chiêu pháp’ ở dưới tầng hầm. Alfred Borden (Christian Bale) bị kết tội giết người. Phim bắt đầu trở ngược lại quá khứ, khi mà Alfred và Robert còn là bạn đồng môn, học trò của nhà ảo thuật Cutter (Michael Caine). Lắt léo một cách thú vị trong thủ pháp hồi tưởng, câu chuyện tái hiện lại thông qua cuốn nhật ký của Robert mà Alfred nhận được khi đang ở trong tù chờ ngày xử án. Trong cuốn nhật ký của mình, Robert kể lại câu chuyện mà anh đọc được trong cuốn nhật ký của Alfred ghi chép lại những ngón nghề ảo thuật mà Alfred sáng tạo ra. Nói cách khác, quá khứ được tái hiện lại qua hai góc nhìn cùng lúc cùng hai nhân vật chính. Alfred và Robert khởi đầu là hai người bạn, nhưng họ nhanh chóng trở thành kẻ đối đầu khi một tai nan vô tình đã khiến người yêu của Robert chết trên sàn diễn, mà lỗi lầm thuộc về Alfred. Họ trở nên cay đắng hơn, tàn nhẫn hơn khi họ trưởng thành hơn. Họ tìm cách hạ gục nhau, không chỉ trên sàn diễn ảo thuật mà cả trong cuộc sống. Họ không chỉ đến xem đối thủ của mình diễn để học lóm ngón nghề, họ còn lên thẳng sân khấu và vạch trần trò ảo thuật của nhau trước mặt khán giả, đôi khi rất tàn nhẫn và độc ác. Nếu như Robert Angier lịch lãm, quý phái, sử dụng vẻ đẹp quý tộc thanh tao của mình làm thế mạnh thì Alfred Borden lại tìm kiếm sự sang tạo, bất ngờ, độc đáo để bù đắp cho vẻ bề ngoài thô kệch nông dân của anh. Alfred thành công với màn trình diễn ‘Người biến đổi’, có thể tung một quả bong từ trái sang phải, bước vào cánh cửa bên trái sân khấu, với một khoảng không ở giữa và mở cánh cửa bên phải sân khấu để nhặt quả bong vừa bay đến. Màn trình diễn khiến Robert đau đầu để khám phá bí ẩn. Quyết tìm bằng được bí quyết, Robert cử Olivia (Scarlett Johansson), người phụ việc cũng là người tình của mình sang học nghề của Alfred…

Đoạn kết của bộ phim, cũng như bài học về trình diễn một màn ảo thuật phải gây bất ngờ cho khán giả, khiến người xem choáng váng vì không thể lường trước được. Lòng hận thù, đố kỵ, ganh ghét khiến cho con người mất hết cả tính người và làm những điều điên cuồng nhất để thoả mãn cho cái ác trong họ.
Hai diễn viên chính trong phim, Hugh Jackman và Christian Bale, được chọn đúng cho vai diễn của họ. Đặc biệt là Christopher Bale với vẻ gai góc xù xì của Alfred khiến người xem cảm thông hơn cho số phận của anh, dù rằng Robert, xét về mặt nào đó, mới là kẻ đáng thương hơn trong cuộc tranh tài này. Điều bất ngờ là The Prestige không thành công về doanh thu tại Bắc Mỹ - vốn ưa chuộng các phim dễ dãi hơn là những phim đòi hỏi suy nghĩ phán đoán – nhưng lại khá thành công khi công chiếu tại Hàn Quốc, vốn là thị trường tiềm năng của điện ảnh Hollywood trong vài năm trở lại đây. Tuy nhiên, khi nhìn lại lịch sử chiếu bong Hàn Quốc sẽ dễ dàng lý giải hơn: Memento, bộ phim ‘khó nuốt’ của Christopher Nolan vốn thất bại ê chề tại Mỹ, cũng từng tạo nên cơn sốt vé ở Hàn Quốc trong vài năm trước. Tuy vậy, so với bộ phim có cùng đề tài về ảo thuật ra mắt hồi đầu mùa thu, the Illusionist với diễn xuất của Edward Norton, The Prestige được đánh giá thành công hơn cả về doanh thu lẫn sự phản hồi từ phía các nhà phê bình điện ảnh.
The Prestige (2006)
Đạo diễn: Christopher Nolan
Kịch bản: Jonathan Nolan, Christopher Nolan
Diễn viên: Hugh Jackman (Robert Angier), Christian Bale (Alfred Borden), Michael Caine (Cutter), Piper Perabo (Julia Angier), Rebecca Hall (Sarah Borden), Scarlett Johansson (Olivia Wenscombe).
MPAA: Rated PG-13
Fellowships for Master of Fine Arts in Film Making and Film Producing 2007 Competition
http://www.acls.org/ceevn.htm
Như một số bạn đã biết, Phan Xi Nê hiện đang ở Mỹ để (có thể) theo học điện ảnh với học bổng toàn phần của quỹ FORD. Trước khi nói sâu thêm về học bổng này cùng những cơ hội để có thể có được học bổng này, tôi xin nói rõ hơn một chút về hoàn cảnh của tôi hiện này.
Hiện thời, tôi đang học Anh Văn tại Language Academy của USC - Đại học Nam California - để nâng cao trình độ Anh Văn nhằm phục vụ cho việc theo học ở bất kỳ trường đại học nào tại Mỹ. Việc học Anh Văn này không nằm trong chương trình học điện ảnh cũng như không phải là yêu cầu bắt buộc để được chấp nhận vào các trường đại học, nhưng là một cơ hội để có thể dễ dàng chứng mình khả năng nghe hiểu Anh Văn ở bậc Đại Học dối với các trường tại đây.
Tôi nhận được học bổng toàn phần của Quỹ Ford (thông qua Trung tâm trao đổi giáo dục Việt Nam - CEEVN) để theo học điện ảnh. Điều đó không có nghĩa rằng tôi được học bổng của các trường điện ảnh, cũng như không bảo đảm rằng tôi sẽ được các trường điện ảnh nhận vào học. Học bổng này chỉ được trao nếu:
a. CEEVN đánh giá người nộp đơn có đủ khả năng và phẩm chất đáp ứng yêu cầu của họ đề ra.
b. Người nộp đơn phải được một trong bốn trường Đại học của Mỹ (gồm USC, UCLA, NYC và NYU - được xem là bốn trường đại học hàng đầu tại Mỹ về ngành điện ảnh) nhận vào học.
Tôi đã vượt qua được yêu cầu a và đang nộp đơn vào trường USC School of Cinematic Arts. Nếu trường này sau khi xét hồ sơ của tôi (cũng như xét hồ sơ của các SV Mỹ khác, không có ngoại lệ hay ưu đãi) và đồng ý nhận tôi vào học, lúc đó tôi mới được nhận tiếp học bổng của FORD để theo học tại đây. Nếu không, tôi sẽ tiếp tục nộp hồ sơ vào các trường còn lại để có thể được nhận vào học vào một trong các trường này.
Tóm lại:
1. Tôi đang học Anh Văn - chứ không phải học điện ảnh - trong khi chờ giấy báo của trường điện ảnh. (Một tin vui là thật ra tôi đã nắm trong tay 99,9% được nhận vào trường, chỉ còn một chút rắc rối về thủ tục, tôi sẽ nói sau trong phần hồ sơ).
2. Học bổng là do quỹ FORD thông qua CEEVN trao, không phải do trường đại học cấp.
---------------------------------------------------------------------------------
Ai có cơ hội nhận được học bổng này? Nếu muốn đăng ký thì đăng ký ở đâu? Có những yêu cầu ra sao? Câu trả lời cho các câu hỏi này nằm trong đường dẫn sau đây: http://www.acls.org/ceevn/film_production.htm Ngoài học bổng dành cho ngành điện ảnh, quỹ FORD còn có các học bổng cho một số ngành khác mà bạn có thể tìm thấy trong đường dẫn ở đầu entry này.
---------------------------------------------------------------------------------
Những điều cần lưu ý - theo kinh nghiệm bản thân của tôi.
- Bạn hãy tham gia vào các hoạt động xã hội cùng các hoạt động nghề nghiệp một cách hăng say và tâm huyết. Tôi nghĩ rằng học bổng này đánh giá cao yếu tố này.
- Am hiểu lĩnh vực mà bạn đăng ký xin học bổng. Điều này rất quan trọng vì bạn sẽ có hai buổi phỏng vấn với những người trong nghề, gồm hội đồng người Việt Nam và hội đồng người nước ngoài. Vì thế, bạn không chỉ cần am hiểu về tình hình điện ảnh trong nước mà cả nước ngoài.
- Chuẩn bị hồ sơ thật kỹ. Hạn chót nộp hồ sơ là 31.3.2007, nhưng bạn có thể bắt đầu ngay từ bây giờ. Hãy chuẩn bị thi TOELF từ bây giờ. Mặc dù CEEVN không đòi hỏi quá gay gắt về bằng TOELF - năm ngoái họ tổ chức thi Anh Văn sau hai buổi phỏng vấn cho các ứng viên chưa có bằng TOELF - nhưng nếu bạn chuẩn bị sẵn sàng thi vẫn tốt hơn. Đừng quên chọn người viết thư giới thiệu cho bạn là những người có uy tín và thật sự hiểu bạn. Bạn cần ít nhất 3 lá thư giới thiệu. Ngoài ra, các bảng điểm học Đại Học và bằng tốt nghiệp cũng cần được dịch ra tiếng Anh và có chứng thực. Chuẩn bị một portfolio thật hoành tráng và hiệu quả, để người khác có thể thấy được năng lực thật sự của bạn. Đừng bao giờ ngại ngùng và giả vờ khiêm tốn. Bạn xứng đáng và có quyền tự hào với những gì bạn đã làm được.
- Sẵn sàng đối đầu với GRE. Mặc dù yêu cầu của học bổng không có GRE nhưng yêu cầu của các trường đại học cần đến bằng này. Thủ tục mà tôi đang gặp rắc rối được nhắc đến ở trên chính là bằng GRE - USC yêu cầu có bảng điểm GRE và dù tôi đã thi rồi nhưng sau nửa thắng họ vẫn chưa gửi bảng điểm về cho tôi cũng như cho trường nên hồ sơ của tôi vẫn xem như chưa hợp lệ. Trên thực tế, lẽ ra tôi phải nộp bảng điểm từ tháng 9 cùng với hồ sơ đăng ký vào đại học, nhưng USC cho phép ngoại lệ vì một số lý do khách quan. Tuy thế, họ vẫn đang yêu cầu bảng điểm này.
+ GRE là gì? GRE (viết tắt của Graduate Record Examination) là một bài thi trắc nghiệm để kiểm tra khả năng tư duy logic của sinh viên ở cấp tốt nghiệp đại học. Nếu muốn học Master, các trường đại học đều yêu cầu GRE (cho các ngành về xã hội, kỹ thuật) hoặc GMAT (cho các ngành về kinh tế, quản trị kinh doanh). Kiểm tra tư duy logic không chỉ về mặt tính toán mà cả về mặt ngôn ngữ và lý luận - bạn sẽ thi hai môn từ vựng và toán. Phần toán thực tế không quá khó và bạn dễ dàng lấy điểm tuyệt đối nếu chịu khó ôn tập trong một tháng và nắm rõ các từ vựng của toán cùng các mẹo vặt trong việc giải toán thi GRE. Phần từ vựng mới thực sự là nỗi kinh hoàng, nó còn kinh hoàng hơn cả phần viết luận. Bạn sẽ hiểu vấn đề này hơn khi mua sách luyện thi GRE hoặc truy cập vào website www.gre.org.
+ Vấn đề mà tôi muốn lưu ý là GRE hoàn toàn khác TOELF. TOELF là kỳ thi được thiết kế dành cho những người không nói tiếng Mỹ, trong khi GRE là kỳ thi được thiết kế cho người Mỹ. Điều đó có nghĩa rằng người ta xem như bạn hiểu hết các từ ngữ trong đề thi, và bạn chỉ có việc tư duy logic để tìm ra đáp án chính xác. Vì vậy, với những sinh viên nước ngoài, GRE khó gấp đôi vì họ còn phải hiểu từ vựng trước khi tư duy. Không chỉ vậy, phần viết luận trong kỳ thi GRE khó hơn thi GMAT. Bạn phải viết hai bài luận với hai format khác nhau, một bài viết trong 45 phút, một bài viết trong 30 phút. Hai bài này đều cần khả năng diễn đạt từ ngữ ở cấp độ hàn lâm và tư duy ogic chặt chẽ mà ở Việt Nam người ta không hề dạy bạn ở trong trường Đại học cũng như khó tìm thấy các lập luận kiểu như thế này trong sách báo đại chúng lẫn chuyên ngành. Thêm một điểm khác biệt quan trọng giữa GRE và TOELF là hệ thống báo điểm. Nếu thi TOELF, bạn có thể thi nhiều lần và chọn kỳ thi nào điểm cao nhất để gửi cho trường thì với GRE, bạn vẫn được thi nhiều lần nhưng các điểm số đều được lưu lại và gửi cho trường của bạn. Vì thế, nếu bạn thi lần đầu với con số điểm thấp tệ hại thì dù kỳ thi sau đó điểm bạn đã cải thiện, bạn vẫn 'ghi ấn tượng xấu" với trường đại học bởi con điểm kỳ đầu. Chính vì thế, ngay từ bây giờ bạn hãy tìm mua sách luyện GRE và chuẩn bị đối đầu với kỳ thi này.
Trên đây là một số vấn đề tôi có thể trao đổi với các bạn. Hy vọng các bạn sẽ lấy được học bổng của FORD vào năm tới và hẹn gặp các bạn tại Mỹ. Nếu bạn có thắc mắc, thoải mái đặt câu hỏi và tôi sẽ cố gắng trả lời nếu có thể.
Những mẩu chuyện nhỏ của Bill

+ (Làm sao để có thể biết được ai là người giỏi): Đó là một 'gift' (tài năng bẩm sinh). Đôi khi người ta cảm thấy. Chẳng hạn như tôi, khi gặp một người nào đó, tôi cảm giác được, ngửi được tài năng của anh ta. Khi chúng tôi bắt tay vào làm X-Men, Bryan Singer chưa tìm ra diễn viên nào để đóng Wolverine. Thế rồi, tôi vô tình được xem một đoạn băng của Hugh Jackman. Đó là một đoạn diễn trên sân khấu kịch ở Úc. Tôi cảm giác rằng anh chàng này có thể đóng được, dù lúc đó Hugh jackman rất charming (duyên dáng), trong khi Wolverine là một tay đầu gấu nhất (toughest guy) trong X-Men. Tôi đề nghị với Bryan, nhưng Bryan cũng nhận xét Hugh quá dịu dàng, không phù hợp với vai này. Không ai tin gã này là một gã có sức mạnh phi thường, cộc lốc và lỗ mãng. Nhưng chưa tìm ra diễn viên nào, Bryan vẫn đồng ý cho Hugh thử vai. Hugh Jackman đã cố gắng đi tập thể lực, cố gắng tỏ ra thật thô lỗ, nhưng anh ta vẫn rất dịu dàng. Cuối cùng, Bryan Singer đã cho quay một cảnh đầu phim, trong đó một mình Wolverine đánh bại mấy tay lực sĩ to con. Chỉ cần một cảnh đó để giới thiệu nhân vật, những cảnh sau đó Hugh Jackman không cần phải cố tỏ ra lỗ mãng, mọi người vẫn tin đây là một gã có sức mạnh. Những phim sau này, Hugh đã mạnh mẽ, gai góc hơn, nhưng ở phần 1, anh ta vẫn giữ nét duyên dáng hiền lành.
+ (Đã bao giờ ông đuổi đạo diễn nào chưa) Tôi từng đuổi hai đạo diễn (cười). Nhưng thật sự thì chuyện đó hiếm khi xảy ra và nó chỉ diễn ra trước khi phim bấm máy. Tôi buộc lòng phải đuổi đạo diễn vì anh ta không hiểu được bộ phim. Chẳng hạn trong một cảnh đối thoại, thay vì quay nhân vật đang nghe người kia nói để thấy phản ứng của người đó, thì anh ta cứ cho quay người nói dù cảnh đó chẳng có ý nghĩa gì. Khi chúng tôi làm bộ phim Entrapment, chúng tôi muốn có Sean Connery và tìm một nữ diễn viên xứng đôi với ông ta. Anh chàng đạo diễn này tưởng tượng ra Sean Connery là một người đàn ông trẻ đẹp và cuối cùng thì cast Catherin Zeta Zones. Cô ta quá trẻ so với Sean, và nếu họ đứng cạnh nhau thì trông như hai ông cháu. Chúng tôi rất lo lắng, không biết liệu họ có hợp với nhau không. Chúng tôi gọi Sean đến cast chung với Catherine, nhưng ông ta lại phàn nàn rằng, ông ấy sẽ không cast nếu không có 'equipment' của mình. 'Equipment' của Sean là... bộ tóc giả của ông ấy ở bên Anh. Chúng tôi phải cho người bay sang Anh đem cái 'equipment' đó qua Mỹ. Sean đến. Và anh đạo diễn này cho cast, và quay thử. Anh ta quay như một music video cho MTV, với những góc quay từ dưới lên, máy lia nhanh, dựng nhanh... Anh ta chẳng hiểu chút gì về bộ phim này. Cuối cùng, chúng tôi sa thải anh ấy và mời đạo diễn khác vào. Tuy nhiên, Catherine Zeta Jones vẫn được giữ lại đóng. Cô ta nói dối tuổi của mình để có được vai này. Và cô ấy bốc lửa, gợi cảm, vừa trẻ trung nhưng lại có nét già dặn kinh nghiệm để đóng được với Sean Connery.
+ (Những lý do gì khiến một số bộ phim của ông bị đẩy kinh phí lên). Chúng tôi không chuẩn bị kỹ. Ví dụ như Titanic. Chúng tôi không thử trước nếu quay dưới nước sẽ ra sao. Chúng tôi cho dựng căn phòng trong một buồng thang máy và sau đó hạ nó xuống để cho nó chìm xuống nước. CHúng tôi nghĩ nó đơn giản, nhưng hoá ra không phải như thế. Mọi thứ ướt sủng. Những tấm thảm. khăn trải. Rèm cửa. Mọi thứ trôi lềnh bềnh không định hướng. Bàn ghế, tủ chén. Và đèn đóm để quay cũng lềnh bềnh và chúng tôi thật sự bị rối tung. Một cảnh quay hư, chúng tôi tốn nhiều thời gian để chờ nó chúng khô trở lại. Nếu có nhiều thời gian, chúng tôi sẽ thử trước, nhưng thật sự là không có nhiều thời gian và vì thế chúng tôi mắc sai lầm. Hoặc khi làm phim Anna and the King. Ở Thái, họ không cho phép chúng tôi quay và vì thế chúng tôi sang Phillippine để dựng cảnh. Chúng tôi dựng nên một lâu đài không giống như lâu đài. Bi kịch hơn, người ta còn làm sàn nhà bằng đá cẩm thạch thật. Ai cần quái gì đá cẩm thạch thật vì lên phim khó mà phân biệt thật giả. Chúng tôi tốn nhiều tiền cho đống đá cẩm thạch đó, và kết quả là không thể nào quay được vì tiếng chân người đi trên đó cứ kêu lộp cộp, lộp cộp và chả thể nào thu tiếng trực tiếp được.
Những bài học từ cuộc trò chuyện với Bill Mechanic.

Tôi thường nói với các đạo diễn trẻ lần đầu làm phim là hãy chuẩn bị làm bộ phim thứ hai. Khi bạn làm một bộ phim đầu tay, đừng quá thất bại, cũng đừng quá thành công. Đừng quá thất bại, có lẽ bạn đã hiểu. Chẳng ai muốn giao phim cho một đạo diễn quá thất bại. Nhưng tại sao lại đừng quá thành công? Hãy nhìn những người đã quá thành công. Kimberly Peirce sau Boys don't cry, cho đến nay mới có dự án khác nhưng vẫn chưa bắt tay vào làm. Cô ấy gần như chấm dứt sự nghiệp của mình. Ngay cả đạo diễn tên tuổi như James Cameron sau Titanic cũng chẳng làm thêm được phim nào. Có hai lý do dẫn đến điều này. Hoặc là bạn sẽ tự sợ hãi với chính mình, sợ rằng mình sẽ không thành công hơn được nữa, vì bộ phim đã quá thành công, và bạn tự trói mình lại. Hoặc là bạn tự cho mình tài ba và chẳng còn nghe lời ai. Nhưng làm phim là một công việc đòi hỏi sự hợp tác và lắng nghe. Với tư cách là một nhà sản xuất, tôi không thích làm việc với những đạo diễn cứng đầu, không nghe lời góp ý của người khác. Tôi muốn có sự hợp tác.
Một ví dụ là Bryan Singer. Khi anh ấy đến Fox và được giao làm X-Men, Bryan đã làm việc theo kiểu ngẫu hứng. Anh ấy đến trường quay mà không hề chuẩn bị gì. Không một ai trong đoàn phim được biết trước điều gì, hôm đó sẽ quay gì hay làm gì. Chúng tôi đã tranh cãi quyết liệt cho đến khi tôi đạt được thoả thuận Bryan phải đem những bản vẽ (storyboard) đến trường quay. Dự án từng bị đình trệ vì Bryan không đồng ý. Anh ta bắt tay vào làm một phim khác và bộ phim đó không thành công. Chính vì thế, Bryan đã đồng ý. Anh ta mất gần một năm để chuẩn bị những bản vẽ cho X-Men. Những gì bộ phim này đã làm được, bạn đều đã thấy. Bây giờ, Bryan Singer đã là một đạo diễn tên tuổi.
Tranh cãi giữa nhà sản xuất và đạo diễn là mâu thuẫn luôn xảy ra. Đặc biệt là các đạo diễn giỏi. Lý An rất hiền lành, khép nép, dễ thương, bẽn lẽn, dịu dàng, nhưng ông ta chẳng bao giờ thay đổi ý kiến và vẫn mỉm cười hiền lành khi nói lời từ chối sự thay đổi. James Cameron cộc lốc, hung hăng, mạnh mẽ và ông ta cũng chả muốn ai sai bảo. James từng đòi giết tôi khi tôi muốn cắt bỏ một cảnh quay. Ông ta thật sự muốn làm điều đó. Mắt ông ta long lên sòng sọc. Tôi nghĩ ông ấy sẽ bắn tôi nếu có khẩu súng ở đó. Cuối cùng thì ông ta nói 'You f*cking ass, be director yourself' (Thằng khốn, thích làm đạo diễn thì tự mà làm đi), rồi bỏ ra, đóng sầm cửa, đá luôn cậu tài xế và đi về. Tôi từng nghe nói James đã tranh cãi với một nhà sản xuất khác ở những phim trước và anh ta ôm luôn đóng phim neg về, khiến cho hãng phim không làm gì tiếp được. Thế nên tôi đã cho cất các đống phim của mình. Hôm sau, James gọi điện và chúng tôi ngồi lại, trao đổi với nhau. Chúng tôi trò chuyện thẳng thắn. Cảnh quay Jack và chồng sắp cưới của Rose rượt đuổi dưới khoang tàu trong lúc con tàu đang chìm bị bỏ, dù nó tốn đến 1 triệu đôla đã thực hiện. Tôi chứng minh cho James thấy rằng, khán giả chẳng ai quan tâm đến cảnh ấy. Họ đang lo cho số phận những hành khách đang hoảng loạn trên boong tàu và cảnh này hoàn toàn rơi ra khỏi mạch phim. Dù làm việc với đạo diễn nào, tôi cũng muốn có tinh thần hợp tác và hiểu nhau. Tôi không làm lợi cho mình hay cho hãng phim, tôi muốn làm lợi cho chính bản thân bộ phim.
Tôi không quan tâm đến các nhà phê bình phim. Tôi chẳng bao giờ muốn đọc. Ở Mỹ, đôi khi bạn chỉ cần đọc đoạn đầu và đoạn cuối. Đoạn giữa, họ chỉ tóm tắt nội dung phim. Thế đấy. Trong suốt 20 năm qua, tôi chỉ tôn trọng một người duy nhất, đó là Pauline Kael. Bà không chỉ phê bình phim, mà công việc của bà là giúp cho người xem hiểu hơn về bộ phim. Những bài phê bình ấy tạo ra một văn hoá xem phim. Bà để cập đến lịch sử, văn hoá, chính trị và nhiều thứ khác liên quan đến bộ phim. Tôi nghĩ rằng, phê bình phim không chỉ đơn giản là "thumb up", "thumb down" (ngón cái đưa lên, chỉa xuống) mà nhà phê bình phim trước tiên phải hiểu bộ phim. Nhiều người chẳng hiểu bộ phim nhưng vẫn cứ đưa ra lời bình luận.
(cho câu hỏi về việc ông kể chuyện làm phim và lỗ cả trăm triệu đôla như... đùa). Với tôi, vấn đề không phải là con số nào. Khi tôi mới vào nghề, tôi đã mua một bộ phim lẽ ra không nên mua. Tôi mất 15 USD. Tôi đã không ngủ được vì 15 USD này. Tôi đã nghĩ cách để lấy lại 15 USD đó, bằng mọi giá. Cuối cùng thì tôi lấy lại được, và lúc đó tôi mới thấy yên lòng. Cái giá của lỗi lầm ấy chỉ 15 USD, nhưng tôi vẫn học được cho mình một bài học. Khi bạn điều hành một công ty có số tiền đầu tư trong một năm là 2 tỷ đô thì bài học về 15 USD vẫn có giá trị. Vấn đề không phải là 15 USD hay là vài trăm triệu đôla. Mất 15 USD cũng đau khổ và tìm mọi cách lấy lại thì bạn cũng sẽ phải làm như thế với hàng trăm triệu đôla. Không phải ở chuyện con số, mà chính là chuyện lỗi lầm thì vẫn là lỗi lầm, bạn phải luôn tìm cách khắc phục nó.
(về câu hỏi, liệu ông chỉ có 200.000 - 300.000 USD để làm một phim, với một hệ thống phát hành chỉ chừng 10 rạp và chiếu trong ba tuần, ông sẽ làm gì?) Hãy làm bộ phim hay nhất mà bạn có thể làm với con số tiền ấy. Hãy làm như thể đó là bộ phim cuối cùng trong cuộc đời bạn và bạn sẽ không còn cơ hội nào khác để làm phim nữa. hãy làm hết sức mình. Tôi muốn nói điều này: ở bất kỳ đâu trên thế giới cũng có những khó khăn riêng. Ngay cả ở Hollywood, những khó khăn mà chúng tôi đối mặt có khi còn lớn hơn. Nhưng chúng ta vẫn phải làm thôi. Bạn phải bắt tay vào làm phim thôi. Càng đương đầu với khó khăn, bạn sẽ càng thấy thú vị. Khi tôi làm ở Fox, ông chủ của tôi không thích tôi. Tôi biết điều đó, và tôi vẫn cứ làm phim như bộ phim đó là bộ phim cuối cùng mà tôi được làm. Tôi làm phim trong tư thế sẵn sàng để ra đi. Ông ta càng ghét tôi, tôi càng chứng minh cho ông ấy thấy rằng tôi làm được, và tôi càng có những phim thành công. Ngay cả khi tôi gặp thất bại với Fight Club và bị buộc ra đi, tôi cũng không hối hận điều gì. Tôi rất tự hào với Fight Club. Xét cho cùng, bộ phim đó không thất bại. Dù khi ra đời, không một nhà bình luận nào khen nó, và hiểu nó. Họ nói đó là bộ phim quá bạo lực. Tôi không hiểu vì sao. Bộ phim này nói về bạo lực, nhưng thật sự nó chẳng có bạo lực. Họ chẳng hiểu tí gì về bộ phim. Bộ phim cũng chẳng được thành công về danh thu ở phòng vé. nhưng cuối cùng, bộ phim vẫn được khán giả yêu thích và đến giờ thì DVD của bộ phim vẫn bán chạy. Hãy làm phim hết sức mình để bạn có thể tự hào về bộ phim của bạn.
Bài học từ Bill Mechanic

B. đến Việt Nam và đem đến những kinh nghiệm. Dĩ nhiên, khó mà áp dụng được tất cả những thứ đó với tình trạng điện ảnh ở Việt Nam. Nhưng như B. nói, làm phim ở đâu cũng vậy, chỉ khác nhau về kích thước, về độ lớn, về quy mộ. Ở đâu cũng có những khó khăn và bạn phải vượt qua. Bạn nói rằng ở Việt Nam làm phim ít tiền là một khó khăn, thì ở Hollywood, đối mặt với những con số hàng trăm triệu đôla cũng là sự khó khăn vì nếu sai lầm, sai lầm đó trị giá hàng trăm triệu đôla.
Ông đạo diễn Đ. bảo rằng, chỉ có ở Hollywood mới có chuyện làm phim một trăm triệu đôla, đến giữa chừng hết tiền thì tăng kinh phí lên 250 triệu đôla, cho nên ở Việt nam chắc chả học theo hệ thống của Hollywood làm gì. Ông ca ngợi mô hình làm phim của Iran, phim ít tiền mà hay. Nghe thật buồn cười. Ông ta không hiểu rằng, so về tỷ lệ thì ở Việt nam, một phim ban đầu kinh phí 5 tỷ, sau đó đội lên 14,5 tỷ và thực tế số tiền đó là 19 tỷ, nếu xét về tỷ lệ % thì Titanic chỉ tăng 250%, còn phim của Việt Nam đội kinh phí lên đến 300%!!! Nhưng Titanic thì ăn khách, còn phim ta thì không! Ngoài ra, cứ chạy theo Iran, mà không hiểu rằng Iran có làm phim cho dân họ xem đâu? Làm phim cho Tây xem, làm bằng tiền của Tây thì phải bôi nhọ hình ảnh nước mình mà làm cho Tây thấy sướng. Không phải như thế là xấu, vì mỗi người có một con đường. Nhưng bắt cả nền điện ảnh đi theo Iran thì tội nghiệp người làm phim lẫn khán giả quá!
Mấy điều ghi chép lại từ năm ngày đi theo B.
Phim hay sẽ kiếm ra tiền. Khi bắt đầu làm phim, hãy có hoài bão rằng bạn sẽ làm một phim hay, không chỉ là phim hay (good movie) mà còn phải là phim tuyệt vời (great movie). Nếu một phim mà khán giả xem xong, ra về và nói 'Phim cũng được đó' (It's OK, It's good) thì phim thất bại. Khán giả xem xong và họ muốn lôi kéo tất cả những người quen đến rạp, gặp ai họ cũng nói 'Xem phim đấy chưa, phãi đi xem đi chứ!", đó mới thực sự là một phim thành công.
Điều đầu tiên đối với một bộ phim là ý tưởng. Vì sao tôi quyết định chọn làm phim này hay phim kia, chính là ý tưởng. Nếu bạn có một ý tưởng đủ mạnh, bạn có thể không cần đến ngôi sao, mặc dù nếu có ngôi sao thì bạn sẽ dễ xin tiền đầu tư hơn. Có ý tưởng tốt, bạn sẽ có thể làm được một phim tốt.
Ý tưởng đến từ đâu ư? Từ khắp nơi. Tôi đọc báo hàng ngày và tôi thấy ý tưởng hiện diện khắp nơi. Một mẩu tin cũng có thể đem đến ý tưởng cho bạn. Khi nắm được ý tưởng, tôi lập tức mua quyền sử dụng tin tức đó, để dành đấy và tìm kiếm người có thể chuyển ý tưởng ấy thành phim.
Tại sao Titanic thành công? Tất cả mọi người đều biết câu chuyện về Titanic. Người ta sẽ không đi xem một thứ họ đã biết. Một con tàu khổng lồ, va vào tảng băng, và bị chìm. Nhưng chỉ trong vài phút đầu phim, James Cameron đã mô tả lại toàn bộ quá trình của sự chìm đắm con tàu này bằng một đoạn giới thiệu qua mô hình mô phỏng 3D trên máy vi tính. Thế đó. ngươi ta sẽ tự hỏi, thế thì còn gì để mà xem. Dĩ nhiê phải có điều gì đó, điều mà họ chưa từng biết đến. Đó là chuyện tình Jack và Rose. Ở đoạn cuối phim, bạn thấy lại hinh ảnh con tàu bị chim, đúng hệt như cảnh đầu phim đã mô tả, nhưng điều khác biệt chính là trên con tàu đó có người và khán giả lo lắng cho những người này. Họ không biết ai sẽ sống và ai sẽ chết. Họ lo lắng cho số phận của nhân vật. Điều đó khiến cho bộ phim hấp dẫn. Trong Titanic, Jack, một kẻ hạ lưu, và Rose, một cô gái thượng lưu, gần như là biểu tượng cho cả xã hội. Họ ở mọi tầng lớp. Và họ giống mọi người. Họ cũng có những mơ ước được trở thành người giàu sang hơn - nhưng họ thấy khó chịu với những ràng buộc của tầng lớp xã hội (mà có thể thấy trong cảnh Jack thấy bứt rứt khi mặc bộ vest và phải ăn uống theo đúng điệu quý tộc), họ cũng khát khao được sống tự do hơn, và thấy hạnh phúc (khi Rose cùng Jack xuống tầng hầm để cùng nhảy múa với những người lao động). Khán giả cảm thấy có mối liên hệ. Họ thấy họ trong nhân vật. họ chia sẻ được. Điều đó đem đến thành công cho bộ phim. Cũng như Trái tim dũng cảm. Ai mà quan tâm đến một gã mặt sơn xanh, mặc váy, tóc dài? Tôi không quan tâm, tôi thấy anh ta xa lạ. Nhưng khi bộ phim kể về một người đàn ông từ chối chiến trnah để sống yên vui với gia đình - tôi nghĩ ai cũng mong muốn được hưởng cuộc sống như thế - rồi gia đình anh ta bị giết hại, anh ấy buộc phải chiến đấu, nhưng không chỉ dừng ở một mối thù cá nhân, anh ta chiến đấu vì đất nước, vì tự do, thì tôi nghĩ rằng mọi người trên thế giới đều hiểu, đều thấy thân quen, đều thấy gần gũi, vì đó không phải là câu chuyện của một cá nhân, của một dân tộc mà đó là câu chuyện toàn cầu. Nó xảy ra ở khắp nơi. Khi bị áp bức thì bạn đòi tự do. Đây là câu chuyện của Scotland, nhưng được một hãng phim của Mỹ thực hiện. tôi nghĩ rằng, sau ý tưởng, bạn phải tạo ra một câu chuyện để người xem có thể liên hệ được với nhân vật trong câu chuyện ấy.
Bill Mechanic

Giới thiệu về một trong những nhà sản xuất lớn nhất của Hollywood:
BILL MECHANIC
Từ năm 1984 đến 1993, nhà sản xuất Bill Mechanic là Giám đốc phát hành quốc tế và phụ trách phần video của hãng Walt Disney, trước khi về làm cho Fox Filmed Enterrtainment.
Trong 7 năm làm chủ tịch của Fox, ông đã điều hành việc sản xuất các phim khổng lồ như: Independence Day (dẫn đầu doanh thu năm 1996), Titanic (dẫn đầu doanh thu năm 1997, đoạt giải Oscar Phim hay nhất), Braveheart (đoạt giải Oscar phim hay nhất), The Full Monty (phim độc lập thành công vang dội nhất), Star Wars Episode 1 (dẫn đầu doanh thu năm 1999), There’s something about Mary, Planet of Apes, Moulin Rouge, Fight Club v.v.. Trong giai đoạn này, hãng Fox đã có tổng cộng 72 đề cử giải Oscar.
Năm 2000 ông rời Fox để đi tìm “sự tự do trong sáng tác”, sau khi mối quan hệ giữa ông và trùm truyền thông Rupert Murdoch (News Corp) trở nên căng thẳng vì những thất bại về tài chính của một số phim mà Bill phụ trách sản xuất.
Rời khỏi Fox, Bill Mechanic lập hãng sản xuất độc lập Pandemonium, nhằm có được các nguồn tài chính mà ông đã tìm kiếm: ông vừa ký một hợp đồng độc quyền với hãng Walt Disney, như là một hợp đồng đồng-đầu tư về sản xuất và phát hành phim.
Với hãng Pandemonium, Bill Mechanic có thể phát huy tất cả năng lực của một nhà kinh doanh cùng với tình yêu điện ảnh đích thực của mình. Ngoài hợp đồng với hãng Walt Disney, ông đã tiến hành một phương thức sản xuất phim dựa trên các nguồn vay ngân hàng và việc bán trước (bán lúa non) các phim ra thị trường nước ngoài. Cách thức này cho phép ông vẫn giữ được quyền kiểm soát hãng Pandemonium, bởi vì Walt Disney chỉ nắm một phần rất nhỏ nguồn tài chính của Pandemonium. Vào giai đoạn đó, Pandemonium có một nguồn ngân sách đảm bảo cho việc sản xuất phim trong 5 năm tiếp theo, mà trong đó có khoảng 20 dự án phim đã được Bill Mechanic xây dựng một cách tỉ mỉ. Đầu năm 2002, hai phim được đưa vào sản xuất: Men of destiny của Ngô Vũ Sâm và The moon and the sun với diễn viên Natalie Porrtman.
Năm 2001, Bill Mechanic làm Chủ tịch Ban Giám khảo tại Liên hoan phim Berlin lần thứ 51. Trong một lần trả lời về “sự xâm chiếm” của điện ảnh Mỹ trên toàn thế giới, ông đã nói về những mong muốn của mình trong việc có được những mối liên hệ chặt chẽ với cả thế giới trong quá trình sáng tạo điện ảnh cũng như trong quá trình thương mại của bộ phim ra nước ngoài, sau đó. “Chính về điểm này mà tôi muốn nhấn mạnh từ 10 năm trở lại đây. Với quan niệm rằng điện ảnh Mỹ đã phát triển hơn, thì thực ra chỉ còn 2 hãng là thực sự mang chất Mỹ: Paramount và Disney.” Ông cũng tỏ mối quan tâm đến việc hợp tác với các tài năng điện ảnh quốc tế: “Theo quan điểm sáng tác, tôi luôn nghĩ rằng việc lôi kéo các tài năng quốc tế vào làm các bộ phim của chúng ta (Mỹ) là hết sức quan trọng, nhằm cho phép các bộ phim này có thể du hành ra ngoài biên giới của chúng ta. Mục đích là để cho khán giả nước ngoài không tự nói rằng những bộ phim mà họ xem bị Mỹ quá!”.
Năm 2005, Bill Mechanic đã sản xuất 2 bộ phim quan trọng: Dark water của đạo diễn người Brasil Walter Sall (Nhà ga trung tâm) và The new world của Terrence Malick (Lằn ranh giới đỏ).
Ông là thành viên của:
Board of Governors of Academy of Motion Picture Arts and Sciences
Board of Counselors of USC Film School
Board of America Friends of National Film Theatre of England
9.25.2007
Filmreview: Across The Universe (2007)

Is there anybody going to listen to my story
All about the girl who came to stay?
(Có ai sẽ nghe câu chuyện của tôi, về cô gái đã đến ở lại đây?)

Julie Taymor, nữ đạo diễn từng nổi danh với bộ phim Frida, đã ‘’gợi ý’ ngay từ cảnh mở màn với khán giả như thế về Across the Universe, rằng bộ phim sẽ tràn ngập âm nhạc của Beatles với câu chuyện tình của chàng trai và cả câu chuyện của cả một thế hệ lạc lõng cô đơn mất phương hướng trước thời cuộc. Chàng trai, Jude (Jim Sturgess) là một nhân công khuân vác ở cảng Liverpool, mang nhiều dáng dấp của Paul McCartney và giọng hát hơi hướm của John Lennon, rời khỏi nước Anh để đến Mỹ tìm người cha không biết mặt của mình.
Trong suốt 130 phút phim, 33 ca khúc của The Beatles lần lượt được trình bày ‘thay lời muốn nói’ của các nhân vật. Tràn ngập âm nhạc. Tràn ngập hình ảnh ẩn dụ. Tràn ngập không khí rạo rực của tuổi trẻ trong một giai đoạn lịch sử của nước Mỹ khi cuộc chiến tranh ở Việt Nam làm chia rẻ đất nước này. Các nhân vật trong phim (hầu hết được đặt tên theo các ca khúc của Beatles) là những bức chân dung tiêu biểu của thế những thanh niên sống trong những năm 1960: Jude (Hey Jude), chàng trai lãng tử đến từ Anh quốc bàng quan với chiến sự; Lucy (Lucy in the sky with Diamonds), cô sinh viên đến New York từ miền Trung nước Mỹ và tham gia những cuộc biểu tình chống chiến tranh khi người yêu của cô hy sinh trong cuộc chiến và người anh trai bị điều ra trận; Max (Maxwell’s Silver Hammer), anh trai của Lucy, một thanh niên nổi loạn xuất thân từ một gia đình khá giả đã rũ bỏ cuộc sống vật chất để đến New York tìm tự do cùng với Jude; Sadie (Sexy Sadie), cô ca sĩ chủ căn hộ mà Jude và Max thuê, mang nhiều dáng dấp của nữ ca sĩ Janet Josplin; Jojo (Get back), tay guitar tài ba rời bỏ quê nhà sau cái chết của đứa em trai đến New York và nhập ban với Sadie; và Prudence (Dear Prudence), cô gái cổ động viên gốc Á không dám bộc lộ cảm xúc thật sự của mình (mà sự xuất hiện của Prudence tại căn hộ ở New York khi cô chui vào qua cửa sổ nhà tắm cũng lấy ý tưởng từ một bài hát của The Beatles, She came in throught the bathroom window)…

Sau cái chết của người yêu ở chiến trường Việt Nam, Lucy rời quê nhà để đến New York, ở trọ cùng Jude và Max, làm quen với nhóm bạn hippie, đồng cảm với trái tim nghệ sĩ lãng mạn của Jude và tình cảm giữa cô và Jude dần nảy sinh. Những người bạn sống chung căn hộ nhỏ ở New York cùng trải qua những ngày tháng sôi động vui tươi, trên chuyến xe bus hippie của giáo sư Robert (nam ca sĩ Bono của nhóm U2 thủ vai), trong gánh xiếc quay cuồng của ngài Kite (do Eddie Izzard thủ vai), những đêm nhạc nhiệt thành của Sadie. Mọi ánh sáng tươi đẹp ấy nhanh chóng nhuốm màu xám xịt. Họ không còn đứng bên lề cuộc chiến tranh Việt Nam được nữa khi Max nhận được giấy gọi nhập ngũ. Câu chuyện phim chuyển sang một trang khác, với chủ đề phản chiến. Lucy tham gia những hoạt động chống cuộc chiến tranh phi nhân, trong khi Jude vẫn cắm đầu vào những tác phẩm hội hoạ của mình và thấy như bị bỏ rơi. Khoảng cách giữa họ dần lớn hơn, cho đến một ngày cuộc biểu tình bùng nổ thành cuộc bạo loạn ở sân trường đại học Columbia. Cảnh sát ập đến. Lucy và Jude chia tay từ đó.
Across the universe là một phim nhạc kịch Beatles với các ca khúc được hát gần như liên tục từ bài này sang bài khác. Đúng hơn, bộ phim gần như trở thành một tập hợp video clip các ca khúc của Beatles được làm mới, mà mỗi ca khúc lại mang trong nó một câu chuyện: câu chuyện về một chàng trai cô đơn kể về người con gái mà anh yêu (Girl); câu chuyện về những người sinh viên nổi loạn bày trò đùa giỡn trong những tháng năm học đường (With a little help from my friends); câu chuyện về những con người xa lạ cùng đến bên nhau, trở thành bè bạn ở New York (Come together – Joe Cocker thủ ba vai khác nhau khi trình bày ca khúc này); câu chuyện của một chàng trai nổi loạn bị đẩy vào quân ngũ, tham gia một cuộc chiến vô nghĩa ở một đất nước xa lạ (I want you, She’s so heavy); câu chuyện về những người bạn an ủi một cô gái bị tổn thương bởi tình yêu đơn phương và không thể thổ lộ trốn trong căn phòng để gặm nhấm nỗi buồn (Dear Prudence); câu chuyện về thái độ mỉa mai những hành động đấu tranh nông nổi của những người tham gia phản chiến (Revolution); và đương nhiên, câu chuyện tình yêu (All you need is love)
Điều thú vị trong Across the Universe chính là mỗi ca khúc được trình bày trong phim có thể không hề mang cảm xúc mà The Beatles từng nghĩ đến hay bất kỳ ai hâm mộ The Beatles từng nghĩ đến. Mỗi ca khúc vang lên lại mang nỗi niềm của một hoặc nhiều nhân vật. Chẳng hạn như Prudence hát ca khúc I want to hold your hand (Anh muốn cầm tay em), đó không còn là câu chuyện tình yêu trai gái, đó cũng không còn mang chút lạc quan yêu đời như bản nhạc nguyên thuỷ. Đó là một bản tình ca buồn bã về một cô gái thầm yêu một người bạn gái khác nhưng không dám ngỏ lời, không dám bày tỏ và dĩ nhiên, không thể nào cầm tay người mình yêu. Hay Let it be là lời nguyện cầu của em trai Jojo trong cuộc bạo động ở Detroit, rồi được ngân vang thành một bản đồng ca nhà thờ đưa tiễn linh hồn cậu bé.
Nhưng đọng lại nhất từ bộ phim chính là hình ảnh ấn tượng của bộ phim. Julia Taymor, rất nổi tiếng với vai trò chỉ đạo nghệ thuật cho vở nhạc kịch Vua sư tử ở sân khấu Broadway, đã đem đến những hình ảnh tạo hình độc đáo sáng tạo bất ngờ và khó quên. Chẳng hạn như cảnh Max được đưa đi khám sức khoẻ chuẩn bị nhập ngũ, tấm poster ‘Chú Sam’ chỉ ngón tay nói ‘I want you’ được minh hoạ bằng hoạt hình, chú Sam lao ra vồ lấy Max, rồi đẩy anh vào ‘lò huấn luyện’ với đội lính biệt kích trăm người như một; sau đó là cảnh những người như Max mặc quần lót khệ nệ khiêng bức tượng Nữ thần tự do băng qua cánh rừng Việt Nam, xen lẫn cảnh nhảy múa trong một bữa tiệc cuối năm ở trường trung học; cảnh những quả dâu gắn trên bức tường của Jude chảy máu, anh nổi giận và ném chúng xuống sàn nhà, hoà lẫn hình ảnh những quả bom ‘dâu’ đầy máu rơi xuống cánh đồng Việt Nam, nơi mà Max đang chiến đấu được minh hoạ với ca khúc Strawberry field forever ; cảnh những cô y tá xinh đẹp quyến rũ (do một mình Salma Hayek diễn) chăm sóc cho những người thương binh Mỹ trở về từ chiến trương Việt Nam; màn ca múa hát cùng bầy rối và các hình ảnh thể nghiệm đầy màu sắc ở lều xiếc của ông Kite; và không thể không nhắc đến cảnh trình diễn balê dưới nước cực kỳ ấn tượng của chín nhân vật chủ chốt trong phim với ca khúc Because.

Thế nhưng, chủ đề phản chiến dù được nhấn mạnh trong suốt nửa chặng đường cuối phim, bỗng trở nên mất sức nặng bởi đoạn kết: Jude hát rằng ‘nothing gonna change my world’ (chẳng có gì thay đổi được thế giới của tôi), và ‘all you need is love’ (tất cả những gì ta muốn là tình yêu). Chẳng hề chi, bởi những người hâm mộ The Beatles hẳn vẫn thoả mãn với những gì họ được thưởng thức trước đó…